Hoán cải hiệp hành, sứ mạng trở thành những nhịp cầu và người xây cầu tại Việt Nam: Đóng góp về Đại hội Toàn thể lần thứ XII của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu

Thứ bảy - 18/07/2026 07:00
hiephanh resize
 
 
MỤC LỤC
Tóm lược. 2
Dẫn nhập: Phạm vi và giới hạn của bài viết 2
Phần I: Khung thần học: Ai là cây cầu. 2
1.1. Ga 1,51: chiếc thang biến mất 2
1.2. Babel và Ngũ Tuần: hai lối kiến trúc. 3
1.3. Hoán cải: đổi hướng bàn chân. 4
Phần II: Thực trạng: Những nhịp đã bắc và những nhịp còn gãy. 4
2.1. Vài mốc gần đây. 4
2.2. Sáu nhịp còn gãy. 6
Phần III: Tin Mừng và các truyền thống sinh hoạt bản địa. 7
3.1. Cây cầu chữ: Tin Mừng đi học tiếng Việt (Nước Mặn, 1618) 7
3.2. Cây cầu hiếu: 86 năm cho một bàn thờ. 8
3.3. Cây cầu tử đạo: chết mà không chối quê hương. 10
3.4. Cây cầu người nghèo và vùng biên. 11
Phần IV: Năm đề nghị 11
Đề nghị 1: Chương trình đào tạo người xây cầu Á châu. 11
Đề nghị 2: Hành lang mục vụ di dân Á châu. 11
Đề nghị 3: Kho tàng hội nhập văn hóa Á châu. 11
Đề nghị 4: Đưa “Đối thoại trong Thánh Thần” vào cơ cấu, kèm bộ chỉ số. 12
Đề nghị 5: Cầu số và trí tuệ nhân tạo. 12
Thư mục nguồn chính
 

HOÁN CẢI HIỆP HÀNH
VÀ SỨ MẠNG TRỞ THÀNH NHỮNG NHỊP CẦU
VÀ NGƯỜI XÂY CẦU TẠI VIỆT NAM

Xin đóng góp
ĐẠI HỘI TOÀN THỂ LẦN THỨ XII
CỦA LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU
JAKARTA, 20–26/7/2026

Lm. Phêrô Trương Minh Thái
Giáo phận Qui Nhơn
--------------------------------------------------------------

 

Tóm lược

 
Bài viết đọc chủ đề Đại hội qua một hình ảnh mà Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gợi ra trong thư gửi Đức Hồng y Đặc phái viên: đối cực giữa tháp Babelngười kiến tạo hiệp thông. Tháp gom mọi ngôn ngữ về một. Cầu thì đi học tiếng của bờ bên kia. Từ đó, tài liệu trình bày bốn kinh nghiệm của Giáo hội tại Việt Nam mà chúng tôi nghĩ có thể hữu ích cho các Giáo hội chị em tại Á châu: chữ Quốc ngữ khai sinh tại Nước Mặn (1618), tiến trình hội nhập văn hóa về lòng tôn kính tổ tiên kéo dài 86 năm và vừa hoàn tất một chặng vào tháng 10/2025, chứng tá tử đạo, và mục vụ vùng biên. Phần thực trạng không né tránh những nhịp cầu còn gãy. Phần cuối nêu năm đề nghị có thể đo lường được, đáp lại mong đợi về “một lộ trình mục vụ thống nhất và có thể triển khai cụ thể cho châu Á, vượt lên trên những tuyên bố”.
 

Dẫn nhập: Phạm vi và giới hạn của bài viết

 
1. Tôi viết bài này từ Sông Hinh, một giáo xứ miền núi ở phía Tây Nam giáo phận Qui Nhơn, vùng đất có người kinh sống giữa hơn 20 sắc tộc đồng bào như Ê Đê, Ba Na, Tày, Nùng, H’Mông và Chăm H’Roi…. Cuối năm 2024 tôi được Giám mục sai về đây, sau hơn hai mươi năm phục vụ ở các giáo xứ vùng duyên hải. Việc đầu tiên tôi khám phá ra khi đến nơi là: ở Sông Hinh, cha sở là người mù chữ. Tôi không đọc được ngôn ngữ của anh chị em mình.
2. Xin nêu rõ giới hạn ngay từ đầu. Đây không phải một khảo sát xã hội học. Tôi không có số liệu điều tra diện rộng, không có bảng hỏi, không có mẫu đại diện. Những gì trình bày ở đây dựa trên ba nguồn: các văn kiện của Huấn quyền và của Hội đồng Giám mục Việt Nam; tư liệu lịch sử truyền giáo của Giáo phận Qui Nhơn; và kinh nghiệm mục vụ của một linh mục đã đi qua ba nhiệm sở trong hai mươi sáu năm. Nguồn thứ ba là nguồn yếu nhất về mặt phương pháp, nhưng tôi vẫn dùng, vì có những điều chỉ thấy được khi đứng ở chỗ thấp.
3. Bài viết đáp lại lời của Đức cha Samson Shukardin, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Pakistan, khi ngài bày tỏ mong đợi trước Đại hội này: một lộ trình mục vụ có thể chuyển thành các sáng kiến ở cấp cơ sở, chứ không dừng ở tuyên bố[1]. Vì thế, Phần IV không phải phần phụ. Ba phần đầu tồn tại để biện minh cho Phần IV.
4. Một ghi chú về từ vựng. Trong tiếng Việt, chúng tôi dịch synodalityhiệp hành - gồm chữ hiệp (cùng nhau, hiệp thông) và chữ hành (đi, bước). Từ này không có trong từ điển tiếng Việt trước năm 2021. Chúng tôi đã phải đúc ra nó. Việc phải đúc một từ mới để nói về một thực tại vốn thuộc bản chất Hội Thánh là điều đáng suy nghĩ, và tôi sẽ trở lại điểm này ở §46.

 

Phần I: Khung thần học: Ai là cây cầu

 

1.1. Ga 1,51: chiếc thang biến mất

 
5. Chủ đề Đại hội toàn thể XII FABC lấy từ lời Chúa Giêsu nói với Nathanael dưới cây vả: “Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa” (Ga 1,50). Câu ấy chưa nói điều lớn lao hơn là gì. Câu kế tiếp mới nói: “Các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).
6. Chúa Giêsu đang trích giấc mộng Bêthel (St 28,12). Nhưng Người sửa lại bản văn ở một chỗ quyết định. Trong sách Sáng thế, các thiên thần lên xuống trên chiếc thang. Ở Gioan, các ngài lên xuống epì tòn Huiòn toû anthrópou - trên chính Con Người[2]. Chiếc thang biến mất khỏi bản văn. Chỗ của nó bị một Ngôi Vị chiếm lấy.
7. Đây là nền tảng và cũng là giới hạn của toàn bộ chủ đề Đại hội bàn trong tuần này. Tiếng Latinh gọi vị thượng tế là pontifex, nghĩa đen là người làm cầu. Ta đã dùng danh hiệu ấy suốt hai ngàn năm, quen đến mức không còn nghe ra nữa. Nhưng chỉ có một Pontifex. Và Người không xây cầu; Người là cây cầu, vì Người mang trong một thân xác cả hai bờ.
8. Hệ luận rất nghiêm khắc đối với chúng ta. Hội Thánh không sở hữu cây cầu. Hội Thánh được mời bước lên đó, và được mời để cho Đức Kitô dùng mình làm ván lát. Ai cũng thích làm người xây cầu. Ít ai muốn làm mặt cầu. Nhưng chỉ mặt cầu mới bị giẫm lên, và chỉ cái bị giẫm lên mới đưa được ai đó sang bờ bên kia.

 

1.2. Babel và Ngũ Tuần: hai lối kiến trúc

 
9. Ngày 11 tháng 7 vừa qua, trong thư gửi Đức Hồng y Oswald Gracias, Đặc phái viên của ngài tại Đại hội này, Đức Thánh Cha Lêô XIV mời gọi các Giáo hội tại châu Á trở thành “những người kiến tạo hiệp thông”, thay vì xây “một Babel mới” của chia rẽ, ích kỷ và quyền lực[3]. Ngài cũng viết rằng người nghèo, người đau yếu, người di cư và trẻ em phải trở thành “những viên đá góc tường” của một xã hội công bằng và huynh đệ[4].
10. Xin khai triển hình ảnh ấy, vì tôi cho rằng nó là chìa khóa của cả Đại hội.
11. Babel là một cái tháp. Kiến trúc của tháp là kiến trúc thẳng đứng: càng lên cao càng ít chỗ, và đỉnh tháp chỉ đủ cho một người. Tháp được xây bằng “một thứ tiếng duy nhất” (St 11,1). Mục đích thì bản văn nói thẳng: “để làm cho danh ta lẫy lừng” (St 11,4).
12. Ngũ Tuần đảo ngược từng chi tiết. Thánh Thần không ban cho các Tông đồ một thứ tiếng để buộc muôn dân phải học. Thánh Thần ban cho các ông nhiều thứ tiếng, để mỗi người nghe được Tin Mừng “bằng tiếng mẹ đẻ của mình” (Cv 2,8). Ngũ Tuần không xóa sự đa dạng mà thánh hiến sự đa dạng.
13. Vậy khác biệt giữa tháp và cầu nằm ở hướng của việc học. Tháp bắt bờ bên kia học tiếng của mình. Cầu thì tự mình đi học tiếng của bờ bên kia. Toàn bộ Phần III của bài viết này chỉ là một minh họa cho câu ấy.

 

1.3. Hoán cải: đổi hướng bàn chân

 
14. Hội nghị Ủy ban Trung ương FABC tại Bangkok tháng 3 năm nay chọn câu “Và họ đã đi lối khác mà về” (Mt 2,12), nối lại sợi chỉ của Đại hội FABC@50 năm 2022[5]. Việc chuẩn bị nội dung Đại hội Jakarta được Ủy ban Trung ương giao cho Ủy ban về Hiệp hành, dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng y Pablo Virgilio Siongco David[6].
15. Từ metánoia thường được dịch là đổi lòng đổi trí. Nhưng trong trình thuật các nhà chiêm tinh, cuộc hoán cải không xảy ra trong đầu. Nó xảy ra dưới bàn chân: di’ állēs hodoû — qua một con đường khác. Các ông đến bằng đường của Hêrôđê, đường của cung điện, đường của những người có bản đồ. Các ông về bằng đường khác.
16. Ở đây tôi phải nói một điều bất lợi cho chính mình. Sau ba năm nói về hiệp hành, tôi vẫn ngồi cùng một cái ghế, vẫn hỏi ý kiến những người tôi biết trước là sẽ đồng ý với tôi, và vẫn về nhà bằng con đường cũ. Đọc tài liệu về con đường khác chưa phải là đi con đường khác.
17. Từ đó tôi xin đề nghị một tiêu chuẩn phân định cho phần còn lại của bài viết, và xin quý Đức Cha dùng nó để phản bác tôi nếu cần: một cây cầu chỉ có một mố thì không phải cây cầu, mà là cái bệ.
18. Nhiều nhịp cầu mục vụ của chúng ta đúng là như vậy. Chúng được đổ móng rất chắc ở phía Hội Thánh, vươn ra rất xa, rồi dừng lại giữa sông. Ta gọi đó là đối thoại. Thực ra đó là độc thoại có micro tốt. Mố thứ hai luôn nằm ở bờ bên kia, và mố thứ hai chỉ xây được bằng việc lắng nghe. Đó là lý do phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần không phải một kỹ thuật điều hành cuộc họp. Nó là dụng cụ để xây cái mố ta không có.

 

Phần II: Thực trạng: Những nhịp đã bắc và những nhịp còn gãy

 

2.1. Vài mốc gần đây

 
19. Giáo hội Công giáo tại Việt Nam có 27 giáo phận trong ba giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn, với khoảng bảy triệu tín hữu, chừng bảy phần trăm dân số. Chúng tôi là thiểu số, như hầu hết các Giáo hội đang ngồi trong Đại hội XII FABC này. Nhưng là một thiểu số còn đông ơn gọi và còn chật nhà thờ ngày Chúa nhật.
20. Cùng Giáo hội hoàn vũ, chúng tôi đang ở giai đoạn thực hiện của Thượng Hội đồng (2025–2028). Tiểu ban Hiệp hành thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố bộ tài liệu học tập ba tập, soạn riêng cho ba đối tượng: giám mục và linh mục; chủng sinh và tu sĩ; giáo dân. Mỗi tập 12 đề tài, mỗi đề tài kèm một giờ chầu Thánh Thể và bốn bước Đối thoại trong Thánh Thần[7].
21. Điều tôi muốn lưu ý không phải bộ tài liệu, mà là một tờ giấy nhỏ kẹp trong đó. Sau mỗi buổi thảo luận, nhóm phải ghi biên bản - có tên nhóm, tên người trình bày, tên thư ký - và gửi về Ban Hiệp hành giáo phận để tổng hợp cuối năm 2026[8]. Nghĩa là lần đầu tiên dòng thông tin trong Giáo hội chúng tôi được thiết kế để chảy ngược lên. Hiệp hành sống hay chết là ở cái mũi tên đó, chứ không ở số trang tài liệu.
22. Đại hội Hội đồng Giám mục Việt Nam lần thứ XVI (Đà Lạt, 6–10/10/2025) công bố Thư Chung 2025, đề ra chương trình mục vụ ba năm hướng tới Năm Thánh 2033, kỷ niệm 500 năm Tin Mừng được loan báo trên quê hương chúng tôi: 2025–2026 “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14); 2026–2027 “Mỗi cộng đoàn Kitô hữu là một cộng đoàn thừa sai” (Cv 2,47); 2027–2028 “Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam lên đường theo lệnh truyền” (Mt 28,19)[9]. Thư Chung cũng mời các linh mục và tu sĩ học và áp dụng phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần khi đồng hành với giáo dân[10].
23. Cột mốc 500 năm cần một chú thích lương thiện. Con số 1533 dựa trên một lời chua bên lề của Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, dẫn theo sách Dã Lục, nói rằng tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất, một người Tây Dương tên I-nê-khu lén đến giảng đạo tại Ninh Cường, Quần Anh và Trà Lũ[11]. Giới nghiên cứu, trong đó có Lm. Gioan Võ Đình Đệ của chính giáo phận tôi, đã đặt nghi vấn nghiêm túc về độ tin cậy của lời chua này[12]. Tôi nêu chuyện này ra vì nó nói lên một điều lạ về chúng tôi: bằng chứng sớm nhất về Tin Mừng trên đất Việt mà chúng tôi có trong tay là một lệnh cấm. Giấy khai sinh của chúng tôi do những người muốn chúng tôi biến mất viết ra. Chúng tôi vẫn đếm 500 năm từ đó.
24. Hai nhịp cầu bên ngoài cũng đáng nêu. Từ năm 2024, lần đầu tiên kể từ 1975, Tòa Thánh có Đại diện thường trú tại Việt Nam[13]. Và ngày 2 tháng 7 năm nay, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, Giáo phận Cần Thơ, cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được tuyên phong Chân phước, do Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle chủ sự với tư cách Đặc sứ của Đức Thánh Cha Lêô XIV[14].
25. Về vị Chân phước ấy, xin để ý hai chi tiết đúng vào chủ đề Đại hội. Thứ nhất: đồng tế hôm đó có Đức Tổng Giám mục Chủ tịch Hội đồng Giám mục Thái Lan và Đức cha Giám quản Tông tòa Giáo phận Viên Chăn bên Lào[15]. Thứ hai, và quan trọng hơn: mộ ngài ở Tắc Sậy, từ nhiều thập niên trước khi có án phong, đã là nơi hành hương của người Công giáo, người Phật giáo, người Cao Đài và cả những người không tin. Cha Trương Bửu Diệp không viết luận văn nào về đối thoại liên tôn. Năm 1946 ngài chỉ không bỏ chạy khi có thể bỏ chạy. Cây cầu mọc lên trên xác ngài, và mọc lên trước khi Giáo hội kịp nhận ra.

 

2.2. Sáu nhịp còn gãy

 
26. Một Đại hội hiệp hành mà chỉ nghe báo cáo thành tích thì đã tự phản bội mình. Sáu điểm sau đây tôi nói với tư cách người trong nhà, và phần lỗi có phần của tôi.
27. Hiệp hành mới nằm ở tầng văn kiện. Tạp chí Hiệp Thông của Hội đồng Giám mục Việt Nam đặt vấn đề rất đúng khi nói tới việc phải chuyển từ hiệp hành được nói đến sang hiệp hành được sống[16]. Ở nhiều nơi, “hiệp hành” hiện là tên một cái ban, một khóa tập huấn, một tờ bìa. Nó chưa là cách ra quyết định.
28. Bàn phân định thiếu ghế. Ở giáo xứ, mô hình thường gặp là cha sở quyết, Hội đồng Mục vụ thi hành. Ở giáo phận, Hội đồng Linh mục và Ban Tư vấn nhiều khi họp để nghe hơn là để bàn. Giáo luật trao cho các cơ quan ấy quyền tư vấn[17]. Nhưng tư vấn chỉ có giá trị khi vị chủ chăn thật lòng chưa quyết trước lúc bước vào phòng họp. Điều này giáo luật không kiểm tra được. Chỉ lương tâm kiểm tra được.
29. Phụ nữ và người trẻ. Các nữ tu Việt Nam đang gánh phần lớn công việc giáo dục, y tế, bác ái, và gần như toàn bộ việc dạy giáo lý. Số nữ tu ngồi ở bàn phân định - nơi các phương án được cân nhắc trước khi thành quyết định - thì rất ít. Với người trẻ cũng vậy. Chúng tôi mời họ đến để hát. Chưa mời họ đến để nói.
30. Người di dân nội địa. Hàng triệu người trẻ Công giáo rời làng quê vào các khu công nghiệp phía Nam. Giáo xứ gốc mất họ khỏi sổ sách; giáo xứ đến chưa bao giờ ghi họ vào sổ nào. Họ ở nhà trọ, làm ca đêm, và biến mất khỏi mọi con số thống kê của chúng tôi. Chúng tôi quen gọi họ là “giáo dân di động”. Nói cho đúng, họ là những người rơi xuống sông ở quãng giữa hai mố cầu.
31. Đồng bào dân tộc thiểu số. Ở Sông Hinh tôi học lại ba điều. Một, tôi cần giáo lý viên bản địa (người sắc tộc), mới là người xây cầu thật; tôi chỉ là người chở vật liệu. Hai, một cộng đoàn đức tin không sinh ra từ kế hoạch mục vụ mà từ việc có ai đó chịu ở lại qua mùa mưa. Ba, ngôn ngữ mẹ đẻ không phải một thứ trang trí phụng vụ; nó là điều kiện để có phụng vụ. Ngày 29/6/2025 chúng tôi lập được cộng đoàn đức tin Bình Giang; ngày 11/2/2026, giáo xứ Tân Lập. Hai nhịp rất nhỏ. Nhưng có thật, và đứng được.
32. Không gian số. Thư Chung 2025 khuyến khích dùng truyền thông và mạng xã hội để đưa ánh sáng Tin Mừng vào môi trường kỹ thuật số[18]. Người Công giáo Việt Nam có mặt rất đông ở đó. Cũng chính ở đó đang hình thành sự phân cực, tin giả tôn giáo, và một thứ quyền giáo huấn tính bằng lượt xem. Cầu số của chúng ta hiện có rất nhiều xe và rất ít lan can.

 

Phần III: Tin Mừng và các truyền thống sinh hoạt bản địa

 
33. Từ Đại hội FABC đầu tiên tại Đài Bắc năm 1974, Giáo hội Á châu đã nhận ra con đường đối thoại ba chiều: với các nền văn hóa, với các tôn giáo, và với người nghèo[19]. Việt Nam không có gì mới để thêm vào công thức ấy. Nhưng chúng tôi có bốn cây cầu đã bắc xong, đã chịu tải, và ít nhất một cây có người chết trên đó. Tôi xin đặt cả bốn lên bàn Đại hội.
 

3.1. Cây cầu chữ: Tin Mừng đi học tiếng Việt (Nước Mặn, 1618)

 
34. Tháng 7 năm 1618, quan Trấn thủ Qui Nhơn Trần Đức Hòa - một người không Công giáo - đưa các thừa sai Dòng Tên từ Hội An về Nước Mặn, một thương cảng thuộc Bình Định, cấp đất, dựng nhà và cấp lương thực cho các ngài[20]. Nước Mặn trở thành cư sở chính thức đầu tiên của Dòng Tên tại Đàng Trong, ba năm sau khi các thừa sai đặt chân lên Cửa Hàn - Hội An ngày 18/01/1615[21].
35. Tại đó các ngài làm một việc mà tôi coi là hành vi hiệp hành đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Việt Nam: các ngài đi học tiếng Việt. Không phải để dịch, mà để nghe. Vì tiếng Việt có sáu thanh mà chữ Hán không ghi nổi, các ngài cùng với những cộng sự người Việt đã dùng mẫu tự Latinh ký âm tiếng nói của một dân tộc. Cha Alexandre de Rhodes hệ thống hóa và cho in tại Rôma năm 1651[22]. Giáo sư Phan Huy Lê tổng kết: chữ Quốc ngữ ở trạng thái phôi thai ra đời sớm nhất tại ba trung tâm Nước Mặn, Hội An và Dinh Chiêm, trong đó Nước Mặn có phần sớm hơn[23]. Thứ chữ ấy hôm nay là chữ viết chính thức của một trăm triệu người Việt, Công giáo cũng như không Công giáo.
36. Xin để ý một chi tiết mà tôi thấy quan trọng hơn cả bản thân công trình. Các bản báo cáo Dòng Tên ghi rất kỹ về sự giúp đỡ của một văn nhân Việt Nam trong việc dịch kinh và chuyển sang mẫu tự Latinh, nhưng không ghi tên ông[24]. Người thầy dạy tiếng cho Tin Mừng ở Việt Nam là một người vô danh. Bốn trăm năm sau, chúng ta còn nhớ tên các thừa sai và đã quên mất tên ông. Nếu Đại hội XII FABC này muốn một hình ảnh về việc xây cầu tại Á châu, tôi nghĩ hình ảnh ấy không phải là các thừa sai. Là ông.
37. Ở Nước Mặn, món quà đầu tiên không đi từ Hội Thánh sang văn hóa. Nó đi từ văn hóa sang Hội Thánh. Người Việt dạy các thừa sai nói; rồi các thừa sai trả lại người Việt một cây bút. Đó là phản-Babel, đúng theo nghĩa đen. Và tôi xin rút ra từ đó một tiêu chuẩn: anh chưa có quyền nói với một dân tộc, bao lâu anh chưa để dân tộc ấy dạy anh nói.
38. Xin thêm một hậu truyện ít người biết. Năm 1868, Giám mục Eugène Charbonnier Trí lập nhà in Làng Sông tại Bình Định, một trong ba nhà in chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Theo thống kê trong Mémorial de Quy Nhơn năm 1922, nhà in này đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại và 32.000 ấn phẩm khác trong một năm; riêng báo Lời Thăm ra hai số mỗi tháng, mỗi số 1.500 bản, phát hành khắp Đông Dương[25]. Cùng một giáo phận: khai sinh con chữ ở thế kỷ XVII, rồi in con chữ ấy cho cả xứ Đông Dương ở thế kỷ XIX. Hội nhập văn hóa mà không có nhà in thì chỉ là một ý tưởng đẹp.

 

3.2. Cây cầu hiếu: 86 năm cho một bàn thờ

 
39. Đây là đóng góp trưởng thành nhất của chúng tôi cho cuộc đối thoại với các nền văn hóa Á châu. Tôi xin trình bày cả tiến trình, vì tiến trình mới là bài học.
40. Trong tâm thức Việt, Đạo Hiếu là điểm đồng quy của Tam giáo - Nho, Phật, Lão - và đã thành máu thịt, thành căn tính của dân tộc[26]. Suốt gần ba thế kỷ, cuộc tranh luận nghi lễ khiến người Công giáo Việt Nam mang tiếng là những đứa con bất hiếu. Đó là vết thương truyền giáo lớn nhất của chúng tôi, lớn hơn cả các cuộc bách hại - vì bách hại giết thân xác, còn tiếng bất hiếu cắt người ta khỏi tổ tiên mình.
41. Đường chữa lành đi qua bốn chặng và mất 86 năm. Ngày 08/12/1939, Bộ Truyền giáo ban hành Huấn thị Plane compertum est, nhìn nhận rằng nhiều nghi lễ ở Cực Đông nay chỉ còn ý nghĩa dân sự[27]. Ngày 20/10/1964, Tòa Thánh chấp thuận cho áp dụng tại Việt Nam[28]. Ngày 14/6/1965, các giám mục họp tại Đà Lạt công bố Thông cáo nêu nguyên tắc[29]. Ngày 14/11/1974, khóa hội thảo VII về Truyền bá Phúc Âm toàn quốc tại Nha Trang ra Quyết nghị với sáu điểm áp dụng cụ thể[30]. Và ngày 07/10/2025, lễ Đức Mẹ Mân Côi, tại Đại hội lần thứ XVI ở Đà Lạt, Ủy ban Văn hóa và Ủy ban Giáo lý Đức tin công bố Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên áp dụng cho toàn Giáo hội Công giáo Việt Nam[31].
42. Nguyên tắc nền tảng, tuyên bố năm 1965 và nhắc lại năm 2025, xứng đáng là câu châm ngôn của Đại hội chúng ta:
“Giáo hội không hủy bỏ hay dập tắt những giá trị thiện hảo, liêm chính, chân thành của các dân tộc, nhưng muốn thánh hóa những phong tục cũng như những truyền thống chân chính đó.”
Thông cáo của Hàng Giám mục Việt Nam về việc tôn kính Tổ tiên, Đà Lạt, 14/6/1965, phần II, số 2.
43. Những áp dụng thì rất cụ thể, rất vật chất - và đây mới là chỗ hội nhập văn hóa chạm đất. Bàn thờ gia tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là không bày biện điều gì mê tín. Được đốt nhang hương, đèn nến và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên. Được cúng giỗ theo phong tục địa phương, bỏ đi những gì dị đoan như đốt vàng mã. Dâu rể được làm lễ gia tiên trong hôn lễ. Được vái lạy và đốt hương trước thi hài người quá cố. Và được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng tại đình làng, để tỏ lòng biết ơn những vị có công với dân tộc[32].
44. Xin dừng lại ở điểm thứ sáu. Đình làng là trung tâm của làng xã Việt Nam. Suốt nhiều thế kỷ, người Công giáo là kẻ đứng ngoài đình. Cái ngày họ được bước vào đình, họ thôi làm người ngoại quốc trên quê hương mình. Một câu trong văn kiện 1974 nói rõ mục đích: “Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng”[33]. Nghĩa là các ngài không mở đình làng cho ta vào; các ngài mở lối cho Tin Mừng đi ra.
45. Theo nhịp sống dân tộc, Giáo hội Việt Nam chọn ngày Mùng Hai Tết để bày tỏ lòng thảo kính với các đấng bề trên còn sống và đã qua đời, với một Lời Tiền Tụng riêng[34]. Văn kiện 2025 còn ghi nhận sáng kiến của một số xứ đạo dùng cờ ngũ hành kết hợp với hình Thánh giá trong lễ hội[35]. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ đứng chung với cây Thánh giá. Ở Rôma việc ấy có thể cần giải thích. Ở làng tôi thì không.
46. Bây giờ xin trở lại chữ hiệp hành đã nói ở §4. Điều làm tôi ngạc nhiên khi đọc kỹ văn kiện 2025 là văn kiện ấy nêu “nguyên tắc hiệp hành mục vụ” như một trong bốn tiêu chuẩn của hội nhập văn hóa, và định nghĩa nó bằng Ep 4,15: sống “trong chân lý và trong tình bác ái”[36]. Văn kiện gọi tên hai lối lệch, và tôi cho rằng hai tên gọi ấy là một món quà cho cả Á châu. Nhân danh chân lý đức tin mà không thực hành đức ái mục vụ thì thành thảo kính hữu danh vô thực: tinh thông quy tắc và lễ nghi, nhưng bỏ rơi cuộc gặp gỡ thật với người sinh dưỡng mình. Ngược lại, nhân danh đức ái mà không lắng nghe chân lý thì thành thảo kính cảm tính ủy mị: cụ thể và gần gũi, nhưng tự giam trong ý thức hệ chật hẹp của gia tộc, khó mở ra với những giá trị phổ quát[37].
47. Đây chính là hai cạm bẫy của mọi cuộc hội nhập văn hóa tại Á châu, và văn kiện của chúng tôi đã đặt tên cho chúng bằng ngôn ngữ luân lý chứ không bằng ngôn ngữ kỹ thuật. Không phải “bảo tàng hóa” hay “dung hợp”, mà hữu danh vô thựccảm tính ủy mị. Cả hai đều là những cách không thương ai cho ra hồn.
48. Điều làm tôi xúc động nhất trong văn kiện 2025 là mẫu gương mà các Đức Cha chọn để dạy phân định trong những hoàn cảnh rối: Thánh Phêrô ở Antiôkia và Thánh Phaolô ở Lystra[38]. Không phải hai vị trong lúc rực rỡ, mà đúng lúc hai vị lúng túng nhất. Phêrô, người đã mở cửa cho dân ngoại, lại tránh dùng bữa với họ khi có người Giêrusalem tới. Phaolô, người kịch liệt chống việc cắt bì, lại đem Timôthê đi cắt bì vì nể người Do Thái ở đó. Hai ứng xử trông như mâu thuẫn với chính mình. Các Đức Cha chúng tôi gọi đó là phân định theo lương tâm bác ái, và bốn tiêu chuẩn được rút ra: lòng mến Chúa; tình yêu con người; “thực tại quan trọng hơn lý tưởng”; và “hiệp nhất vượt thắng xung khắc”[39]. Nói cách khác: người xây cầu phải chấp nhận rằng cây cầu của mình sẽ hơi cong. Cầu thẳng tuyệt đối chỉ có trên bản vẽ.

 

3.3. Cây cầu tử đạo: chết mà không chối quê hương

 
49. 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được tuyên thánh ngày 19/6/1988[40]. Điều tôi muốn thưa với Á châu về các ngài chỉ một câu: các ngài từ chối bước qua thập giá, nhưng chưa bao giờ từ chối quê hương mình. Các ngài chết như những người Việt Nam, và máu các ngài thấm vào chính mảnh đất đã sinh ra các ngài. Đó cũng là định nghĩa chính xác nhất của một cây cầu: một công trình cắm chân vào cả hai bờ và chịu sức nặng của cả hai.
50. Đường hướng mà Hội đồng Giám mục chúng tôi chọn từ Thư Chung 1980 - “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”[41] - mọc lên từ mảnh đất đó, chứ không từ một bàn đàm phán. Cùng Thư Chung ấy, các ngài xin xây dựng “một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”[42].
51. Chúng tôi không giấu rằng con đường ấy còn những giới hạn, trong giáo dục, trong y tế và trong nhiều lãnh vực khác. Nhưng có một điều chúng tôi học được mà vài Giáo hội Á châu bạn có lẽ thấy quen: kiên nhẫn cũng là một loại vật liệu xây dựng. Từ Nhóm Công tác hỗn hợp năm 2009 đến vị Đại diện thường trú năm 2024 là mười lăm năm. Mười lăm năm cho một nhịp cầu. Ở Á châu, ai vội thì đừng làm pontifex.

 

3.4. Cây cầu người nghèo và vùng biên

 
52. Đức Thánh Cha Lêô XIV nói người nghèo, người đau yếu, người di cư và trẻ em phải là những viên đá góc tường[43]. Đá góc tường, chứ không phải đá lát nền. Nghĩa là thứ mà nếu rút ra thì công trình sụp.
53. Xin nói cụ thể. Sau các cơn bão lũ tàn phá miền Trung và miền Bắc năm 2025, Caritas Việt Nam và Caritas các giáo phận đi vào những nơi không ai hỏi người được cứu theo đạo nào[44]. Ở đó chúng tôi không cần diễn văn về đối thoại liên tôn. Một bao gạo trao đúng lúc là một luận đề thần học đã được chứng minh.

 

Phần IV: Năm đề nghị

 
54. Năm đề nghị sau đây đều có thể đo được và đều có thể khởi động trước Giáng Sinh năm nay. Tôi cố ý không đề nghị thêm một hội nghị nào.
 

Đề nghị 1: Chương trình đào tạo người xây cầu Á châu

 
55. Một chương trình đào tạo thường trực, luân phiên chủ nhà giữa các Hội đồng Giám mục, dành cho ba nhóm: linh mục dưới mười lăm năm chức thánh, nữ tu có trách nhiệm, và giáo dân lãnh đạo. Nội dung: lãnh đạo hiệp hành, phương pháp phân định, đối thoại liên tôn, ngôn ngữ. Điều kiện để nó không thành một tuyên ngôn nữa: mỗi Hội đồng Giám mục cam kết một con số cụ thể - bao nhiêu học viên, bao nhiêu ngân sách - và con số ấy được công bố. Các Giáo phận, trong khả năng của mình, sẵn sàng nhận phần của mình.
 

Đề nghị 2: Hành lang mục vụ di dân Á châu

 
56. Đây là đề nghị tôi tha thiết nhất, và cũng là chỗ Việt Nam có thể góp nhiều nhất. Hàng trăm ngàn người Việt trẻ đang lao động tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia và vùng Vịnh; trong số họ có rất nhiều người Công giáo, và nhiều linh mục, tu sĩ Việt Nam đang phục vụ tại các Giáo hội đó. Xin Đại hội nhìn kỹ hiện tượng này. Đây không chỉ là một vấn đề mục vụ. Đây là cây cầu Á châu duy nhất hiện đang có người đi qua mỗi ngày, và nó đang được xây bằng chính chân của người đi.
Đề nghị cụ thể: FABC thiết lập một cơ chế thường trực nối Giáo hội gửi người và Giáo hội nhận người, với bốn điều tối thiểu: (1) một chứng thư mục vụ thống nhất đi theo người di dân, từ giáo xứ gốc đến tuyên úy nơi đến; (2) danh mục tuyên úy và cộng đoàn theo ngôn ngữ, công khai và cập nhật; (3) chuẩn bị trước khi đi tại Giáo hội gửi, và đón tiếp tại Giáo hội nhận; (4) một quy tắc bảo vệ chung trước nạn buôn người, bẫy nợ và lạm dụng lao động. Giáo hội Việt Nam sẵn sàng góp nhân sự.

 

Đề nghị 3: Kho tàng hội nhập văn hóa Á châu

 
57. Mỗi Hội đồng Giám mục ký gửi vào một kho chung hồ sơ hội nhập văn hóa đã được Huấn quyền chuẩn nhận của mình: cả văn kiện, cả tiến trình, cả những sai lầm. Việt Nam xin ký gửi trước: toàn bộ hồ sơ tôn kính tổ tiên 1939–2025, và hồ sơ chữ Quốc ngữ. Lý do thì rất thực tế. Hiện nay mỗi Giáo hội Á châu đang giải lại cùng một bài toán từ con số không, và cùng rơi vào hai cái bẫy như nhau - cái bẫy hữu danh vô thực và cái bẫy cảm tính ủy mị. Chúng ta không còn đủ thời gian cho việc đó.
 

Đề nghị 4: Đưa “Đối thoại trong Thánh Thần” vào cơ cấu, kèm bộ chỉ số

 
58. Phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần phải thôi làm phương pháp của các Đại hội và trở thành phương pháp của những cuộc họp thường ngày: Hội đồng Linh mục, Hội dòng, Hội đồng Mục vụ giáo xứ và các đoàn thể tông đồ giáo dân. Và để năm 2028 chúng ta có gì đó để đo, xin đề nghị FABC nhận một bộ chỉ số hiệp hành Á châu thật ngắn, trả lời mỗi năm và công bố:
(1) Trong mười hai tháng qua, bao nhiêu quyết định mục vụ cấp giáo phận đã đi qua một tiến trình phân định có ghi biên bản?
(2) Tỷ lệ phụ nữ, người trẻ và giáo dân tại các bàn phân định là bao nhiêu?
(3) Bao nhiêu người ngoài Công giáo đã được hỏi ý kiến khi Giáo hội lập kế hoạch phục vụ chính họ?
(4) Cộng đoàn có được nghe lại kết quả của điều họ đã nói không?
Câu thứ tư quan trọng nhất. Lắng nghe mà không hồi đáp thì không phải lắng nghe; đó là thu thập dữ liệu. Văn kiện Chung kết 2024 gọi tên đòi hỏi này là tính minh bạch và trách nhiệm giải trình[45]. Ở Việt Nam, chúng tôi đã có sẵn cái mũi tên chảy ngược mà tôi nói ở §21. Việc còn lại là đừng để nó cụt ở giữa đường.

 

Đề nghị 5: Cầu số và trí tuệ nhân tạo

 
59. Giáo hội Á châu là Giáo hội trẻ nhất và kết nối nhất thế giới. Công cụ đang chạy nhanh hơn sự phân định của chúng ta. Xin đề nghị FABC sớm có một bản hướng dẫn Á châu về loan báo Tin Mừng trong không gian số và việc dùng trí tuệ nhân tạo trong mục vụ, với ba lằn ranh tối thiểu: không thay thế con người trong tương quan mục vụ; không đụng tới ấn tòa giải tội và bí mật lương tâm; và trách nhiệm cuối cùng luôn thuộc về một con người có tên. Tại Việt Nam có những giáo phận đang thí điểm những công cụ như vậy cho việc quản trị giáo xứ, soạn giáo lý và đào tạo giáo lý viên…, tùy quy mô lớn-nhỏ, và sẵn sàng chia sẻ cả cái được lẫn cái hỏng.
60. Sau hết, một ước nguyện riêng, xin được nêu như ước nguyện chứ không như một đề nghị chính thức: năm 2033, khi Giáo hội tại Việt Nam mừng 500 năm Tin Mừng đến với dân tộc mình, ước gì đó không chỉ là lễ kỷ niệm của riêng người Việt, vì năm trăm năm ấy được viết bằng bàn tay thừa sai Bồ Đào Nha và Ý, bằng lời của những người Việt vô danh đã dạy các ngài nói, và bằng máu của người Việt lẫn người ngoại quốc đổ chung trên một pháp trường.
Kết luận: Ngày 26/7
61. Đại hội Toàn thể lần thứ XII FABC này bế mạc ngày 26 tháng 7. Tại Việt Nam, ngày 26 tháng 7 là ngày kính nhớ Chân phước Anrê Phú Yên, và cũng là Ngày Giảng viên Giáo lý Việt Nam[46]. Thầy sinh khoảng năm 1625 tại một xóm nhỏ ven sông Cái, nay là giáo xứ Mằng Lăng, Giáo phận Qui Nhơn. Tôi coi sóc giáo xứ ấy mười một năm, từ 2013 đến 2024, nên xin phép nói về thầy như nói về một người cùng làng.
62. Mẹ thầy, bà Gioanna, góa chồng sớm, đã dẫn con đến xin cha Đắc Lộ rửa tội năm 1641. Thầy vào Hội Thầy Giảng năm mười bảy tuổi và tuyên hứa tại Hội An năm 1643. Tháng 7 năm 1644, khi quân lính đến bắt thầy giảng Inhaxiô thì chỉ có mình thầy ở nhà, và họ bắt thầy. Trước tòa, thầy nói: “Ước chi tôi có được ngàn mạng sống để hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa hầu đền đáp ơn Người.” Trong tù, thầy lặp đi lặp lại với bạn bè: “Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống.” Khoảng năm giờ chiều ngày 26/7/1644, thầy bị điệu ra Gò Xử, Thanh Chiêm, Điện Bàn, Quảng Nam và bị xử tử. Thầy mười chín tuổi[47].
63. Anrê Phú Yến không xây được nhà thờ nào, không viết được văn kiện nào, không dự được Đại hội nào. Thầy chỉ nằm xuống, và Tin Mừng bước qua trên lưng thầy để sang được bờ bên kia là dân tộc Việt Nam. Chiều ngày 26 tháng 7 này, Đại hội chúng ta sẽ đi qua Đường hầm Hữu nghị (Terowongan Silaturahmi) để sang Đền thờ Istiqlal[48]. Một đường hầm là một cây cầu lộn ngược: thay vì bắt người ta ngẩng đầu lên nhìn, nó bắt người ta cúi đầu xuống mà đi. Chưa ai qua được đường hầm ấy mà vẫn ngẩng cao đầu. Babel bắt ta ngước lên; cầu bắt ta cúi xuống. Cuộc hoán cải hiệp hành mà chúng ta tìm suốt tuần này, rốt cuộc, gọn trong một câu hỏi: chúng ta còn muốn làm tháp, hay đã bằng lòng làm ván lát cầu?
Xin phép khép lại bằng mấy câu lục bát, thể thơ mà mẹ Việt Nam dùng để ru con và để tiễn người chết.

Chúa ơi, xin dạy con làm
một nhịp cầu nhỏ bắc ngang phận người;
không xây bằng đá ngất trời -
Ba-ben ngạo nghễ một thời rồi tan.
Chỉ xin dăm tấm ván sàn,
bắc qua bờ vực trần gian mịt mờ,
để người lữ thứ bơ vơ
bước qua, chợt thấy Chúa chờ bên kia.
Sông Hinh, Gp. Qui Nhơn, ngày 16 tháng 7 năm 2026

 

Thư mục nguồn chính

I. Huấn quyền Hội Thánh hoàn vũ

Bộ Truyền giáo. Huấn thị Plane compertum est. 08/12/1939.
Công đồng Vatican II. Hiến chế tín lý Lumen Gentium (1964); Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes (1965); Sắc lệnh Ad Gentes (1965).
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thông điệp Redemptoris Missio. 07/12/1990.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Tông huấn Evangelii Gaudium. 24/11/2013.
Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI. Văn kiện Chung kết. 26/10/2024.
Tổng Thư ký Thượng Hội đồng. Các lộ trình cho giai đoạn thực hiện của Thượng Hội đồng 2025–2028. 2025.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV. Thư gửi Đức Hồng y Oswald Gracias, Đặc phái viên của Đức Thánh Cha tại Đại hội Toàn thể lần thứ XII của FABC. Công bố ngày 11/7/2026.
Bộ Giáo luật 1983, các điều 495–502; 511–514; 536.

II. Liên Hội đồng Giám mục Á châu

FABC. Đại hội Toàn thể lần thứ I, “Evangelization in Modern Day Asia”. Đài Bắc, 22–27/4/1974.
FABC. Đại hội FABC@50, “Cùng nhau hành trình như các dân tộc Á châu… và họ đã đi lối khác”. Bangkok, 10/2022.
Đại hội Truyền giáo Á châu lần II. Penang, Malaysia, 27–30/11/2025. (Phái đoàn Việt Nam: 28 thành viên, gồm 6 giám mục, 6 linh mục, 4 nữ tu và 12 giáo dân.)
Hội nghị Ủy ban Trung ương FABC với các Văn phòng. Bangkok, 3/2026.
Chương trình Đại hội Toàn thể lần thứ XII. Jakarta, 20–26/7/2026.

III. Hội đồng Giám mục Việt Nam

Hàng Giám mục Việt Nam. Thông cáo về việc tôn kính Tổ tiên. Đà Lạt, 14/6/1965.
Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam. Quyết nghị về lễ nghi tôn kính ông bà tổ tiên. Nha Trang, 14/11/1974.
Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thư Chung 1980.
Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thư Chung 1998.
Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy ban Văn hóa và Ủy ban Giáo lý Đức tin. Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên. Đà Lạt, 07/10/2025.
Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thư Chung năm 2025 về sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đại hội lần thứ XVI, Đà Lạt, 6–10/10/2025.
Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tiểu ban Hiệp hành. Tài liệu học tập Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành, 3 tập. 6/2026.
Hiệp Thông, số 152: “Hội thánh Hiệp hành thừa sai với phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần”. 2026.
Hội đồng Giám mục Việt Nam (biên soạn). Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

IV. Lịch sử truyền giáo và chữ Quốc ngữ

Borri, Cristoforo. Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina. Roma, 1631. (Bản Việt ngữ: Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong / Xứ Đàng Trong năm 1621.)
de Rhodes, Alexandre. Dictionarium Annamiticum, Lusitanum, et Latinum. Roma: Sacr. Congreg. de Propaganda Fide, 1651.
de Rhodes, Alexandre. Phép giảng tám ngày. Roma, 1651. (Về thuyết Tam phụ.)
Phan Huy Lê. “Tổng kết hội thảo khoa học Bình Định với chữ Quốc ngữ”. Trong: Bình Định với chữ Quốc ngữ. Kỷ yếu hội thảo khoa học, 2016.
Nguyễn Thanh Quang. “Quan Trấn phủ Qui Nhơn Trần Đức Hòa với việc hình thành chữ Quốc ngữ”. Trong: Bình Định với chữ Quốc ngữ, 2016.
Võ Đình Đệ, Gioan. “Nước Mặn, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ”. Giáo phận Qui Nhơn.
Võ Đình Đệ, Gioan. “Năm 1533, Tin Mừng truyền vào Việt Nam?”. Giáo phận Qui Nhơn.
Quốc sử quán triều Nguyễn. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển XXXIII. 1856–1884.
Mémorial de Quy Nhơn. 1922. (Về nhà in Làng Sông.)

V. Chú giải Kinh Thánh

Brown, Raymond E. The Gospel According to John (I–XII). Anchor Bible 29. Garden City, NY: Doubleday, 1966.
Kinh Thánh. Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV). Hà Nội: Nxb Tôn giáo, 2011.
Các bản tin và tường thuật sự kiện năm 2026 được đối chiếu từ Vatican News (bản tiếng Việt), trang thông tin Hội đồng Giám mục Việt Nam (hdgmvietnam.com) và các trang giáo phận, truy cập tháng 7/2026.


 
 

[1]Xem tường thuật của Văn phòng Truyền thông Xã hội FABC về Đại hội Toàn thể lần thứ XII, dẫn lời Đức cha Samson Shukardin, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Pakistan (7/2026).
[2]Về việc Ga 1,51 đọc lại St 28,12 và cuộc tranh luận ngữ pháp quanh đại từ Hípri בּוֹ (“trên nó” hay “trên ông”), xem Raymond E. Brown, The Gospel According to John (I–XII), Anchor Bible 29 (Garden City, NY: Doubleday, 1966), tr. 89–91.
[3]Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, Thư gửi Đức Hồng y Oswald Gracias, Đặc phái viên của Đức Thánh Cha tại Đại hội Toàn thể lần thứ XII của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, công bố ngày 11/7/2026 (Vatican News, bản tiếng Việt, 11/7/2026).
[4]Ibid.
[5]Hội nghị Ủy ban Trung ương FABC với các Văn phòng, Bangkok, 3–5/3/2026; chủ đề Kinh Thánh: “Và họ đã đi lối khác mà về” (Mt 2,12). Xem tường thuật trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam, 7/3/2026. Đại hội FABC@50 (Bangkok, 10/2022) mang chủ đề “Cùng nhau hành trình như các dân tộc Á châu… và họ đã đi lối khác”.
[6]Ibid.
[7]Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tiểu ban Hiệp hành, Tài liệu học tập Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành, 3 tập (dành cho giám mục và linh mục, công bố 22/6/2026; cho chủng sinh và tu sĩ, 26/6/2026; cho giáo dân, 24/6/2026). Nguồn: hdgmvietnam.com.
[8]Ibid. Xem phần “Phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần” và mẫu biên bản nhóm trong cả ba tập.
[9]Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung năm 2025 về sứ mạng loan báo Tin Mừng, Đại hội lần thứ XVI, Đà Lạt, 6–10/10/2025, số 4–5.
[10]Ibid., số 6.
[11]Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển XXXIII, tờ 5–6 (biên soạn 1856–1881, khắc in 1884), lời chua ở mục cấm đạo.
[12]Xem Gioan Võ Đình Đệ, “Năm 1533, Tin Mừng truyền vào Việt Nam?”, đăng trên trang Giáo phận Qui Nhơn (gpquinhon.org), và các phản biện trước đó của Chu Thiên – Đinh Xuân Lâm (Nghiên cứu Lịch sử, số 2/1968) và Trần Thanh Ái, cho rằng chi tiết này rất có thể xuất phát từ Tây dương Gia tô bí lục (khoảng 1794) chứ không từ một nguồn độc lập.
[13]“Thỏa thuận về Quy chế của Đại diện Thường trú của Tòa Thánh và về Văn phòng Đại diện Thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam”, ký ngày 27/7/2023; Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski được bổ nhiệm làm Đại diện thường trú tiên khởi, công bố ngày 23/12/2023, nhận nhiệm sở năm 2024.
[14]Sắc lệnh nhìn nhận cuộc tử đạo được Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho công bố ngày 25/11/2024. Thánh lễ tuyên phong cử hành lúc 8g00 ngày 02/7/2026 tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, Giáo phận Cần Thơ, do Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng trưởng Phân bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha, chủ sự. Ngày 12 tháng 3 được chọn làm ngày kính nhớ Chân phước. Xem Vatican News (bản tiếng Việt) và hdgmvietnam.com, 2–3/7/2026.
[15]Xem tường thuật Thánh lễ tuyên phong ngày 02/7/2026; ước lượng số tham dự dao động từ 70.000 đến gần 100.000 người, gồm cả người Công giáo và người ngoài Công giáo.
[16]Xem chủ đề số Hiệp Thông 152: “Hội thánh Hiệp hành thừa sai với phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần” (Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2026).
[17]X. Bộ Giáo luật 1983, các điều 495–502 (Hội đồng Linh mục và Ban Tư vấn), 511–514 (Hội đồng Mục vụ giáo phận), 536 (Hội đồng Mục vụ giáo xứ).
[18]HĐGMVN, Thư Chung năm 2025, số 5.
[19]Liên Hội đồng Giám mục Á châu, Đại hội Toàn thể lần thứ I, “Evangelization in Modern Day Asia”, Đài Bắc, 22–27/4/1974, số 12–20.
[20]Xem Nguyễn Thanh Quang, “Quan Trấn phủ Qui Nhơn Trần Đức Hòa với việc hình thành chữ Quốc ngữ”, trong: Bình Định với chữ Quốc ngữ (Kỷ yếu hội thảo khoa học, 2016); và Gioan Võ Đình Đệ, “Nước Mặn, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ”, trang Giáo phận Qui Nhơn.
[21]Ibid. Các thừa sai thường trú tại Nước Mặn những năm đầu gồm: Lm. Francesco Buzomi (Ý), Lm. Cristoforo Borri (Ý), Lm. Francisco de Pina (Bồ Đào Nha) và tu huynh Antonio Diaz (Bồ Đào Nha). Theo báo cáo thường niên năm 1620, các thừa sai tại Nước Mặn đã rửa tội được 180 người.
[22]Alexandre de Rhodes, Dictionarium Annamiticum, Lusitanum, et Latinum (Roma: Typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. de Propaganda Fide, 1651).
[23]Phan Huy Lê, “Tổng kết hội thảo khoa học Bình Định với chữ Quốc ngữ”, trong: Bình Định với chữ Quốc ngữ (Kỷ yếu, 2016). Ông cũng lưu ý rằng không thể xác định một cá nhân hay một địa điểm duy nhất là người và nơi đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.
[24]Xem Gioan Võ Đình Đệ, “Nước Mặn, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ”, dẫn theo các bản phúc trình thường niên của Dòng Tên. Các cộng sự người Việt được nhắc tới còn có anh Augustinô, thông ngôn người Đàng Trong của Lm. Buzomi, và một thanh niên mười sáu tuổi có tên thánh là Phêrô.
[25]Dẫn theo Mémorial de Qui Nhơn (1922); xem tổng thuật trong các nghiên cứu về nhà in Làng Sông và việc truyền bá chữ Quốc ngữ tại Bình Định.
[26]Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy ban Văn hóa và Ủy ban Giáo lý Đức tin, Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên, Đà Lạt, 07/10/2025, số 1.
[27]Bộ Truyền giáo, Huấn thị Plane compertum est, ban hành ngày 08/12/1939, được Đức Giáo Hoàng Piô XII chuẩn y ngày 07/12/1939. Bản dịch Việt ngữ của Lm. Giuse Đỗ Quang Chính, SJ, in trong phụ lục Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên (2025).
[28]Hàng Giám mục Việt Nam, Thông cáo về việc tôn kính Tổ tiên, Đà Lạt, 14/6/1965, phần mở đầu.
[29]Ibid.
[30]Quyết nghị của Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam về lễ nghi tôn kính ông bà tổ tiên, Nha Trang, 14/11/1974. Trong số các vị ký tên có Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Qui Nhơn.
[31]HĐGMVN, Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên, Đà Lạt, 07/10/2025, ký bởi Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân (Ủy ban Văn hóa) và Đức cha Gioan Đỗ Văn Ngân (Ủy ban Giáo lý Đức tin).
[32]Quyết nghị Nha Trang, 14/11/1974, các số 1–6.
[33]Ibid., lời dẫn.
[34]HĐGMVN, Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên (2025), số 4 và chú thích 21, dẫn Lời Tiền Tụng lễ Mùng Hai Tết, kính nhớ Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ.
[35]Ibid., số 17.
[36]HĐGMVN, Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên (2025), số 9.
[37]Ibid.
[38]Ibid., số 21, dẫn Gl 2,11-14 (Phêrô tại Antiôkia) và Cv 16,1-3 (Phaolô cho Timôthê chịu cắt bì tại Lystra).
[39]Ibid., số 22; hai tiêu chuẩn sau dẫn từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (2013), số 231–233 và 226–230.
[40]Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh 117 vị Tử đạo tại Việt Nam ngày 19/6/1988 tại Rôma.
[41]Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 1980, số 9 và số 10.
[42]Ibid., số 9; được trích lại trong Hướng dẫn việc Tôn kính Tổ tiên (2025), số 5.
[43]Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, Thư gửi Đức Hồng y Oswald Gracias, 11/7/2026.
[44]X. HĐGMVN, Thư Chung năm 2025, số 1.
[45]X. Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI, Văn kiện Chung kết (26/10/2024), chương “Tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và việc lượng giá”.
[46]Chân phước Anrê Phú Yên (khoảng 1625 – 26/7/1644), thầy giảng, chứng nhân tiên khởi của Giáo hội Việt Nam, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong Chân phước ngày 05/3/2000. Tại Hội nghị thường niên ở Bãi Dâu (25–27/3/2008), Hội đồng Giám mục Việt Nam chính thức chọn ngày 26/7 làm Ngày Giảng viên Giáo lý Việt Nam.
[47]Xem “Chân phước Anrê Phú Yên, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644”, trích Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam biên soạn; và tài liệu “Các vị Tử đạo của Giáo phận Qui Nhơn”. Thi hài thầy được cha Alexandre de Rhodes đưa về an táng tại Macao; thủ cấp hiện đặt tại nhà Bề trên Tổng quyền Dòng Tên ở Rôma.
[48]Theo chương trình bế mạc Đại hội ngày 26/7/2026: Thánh lễ tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Jakarta, tiếp đó các tham dự viên đi qua Đường hầm Hữu nghị (Terowongan Silaturahmi) sang Đền thờ Hồi giáo Istiqlal. Đường hầm được khánh thành cho công chúng tháng 12/2024, sau chuyến Tông du của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến Indonesia tháng 9/2024.
 

Tác giả: Phêrô Trương Minh Thái

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check