QUI NHƠN[1] – THỊ NẠI TRONG CHIẾN LƯỢC VỆ QUỐC VÀ KIẾN QUỐC
Vào chuyện:
Ngày nay, khi bàn đến các lãnh vực kinh tế chính trị trên thế giới, người ta thường sử dụng thuật ngữ “địa chính trị” (Geopolitics)[2] hay “địa kinh tế” (Geo-economics)[3] để chỉ những mối tương quan, những ảnh hưởng, giao thoa, những sức mạnh và điều kiện tương tác, áp lực… lên nhau và lẫn nhau của các quốc gia, các châu lục, các vùng lãnh thổ, các khối kinh tế-văn hoá-tôn giáo, các hệ thống chính trị…
Vì thế, chương trình “vệ quốc và kiến quốc” của bất cứ quốc gia dân tộc nào cũng đều liên quan mật thiết đến “địa chính trị”; nói cách khác, sự ổn định và phát triển, tồn tại hay biến mất của một quốc gia luôn kèm theo vấn đề “lãnh thổ” hay “không gian sống” và những vị trí chiến lược trên đó, như Klaus Dods phát biểu: “Một nhà nước mạnh mẽ và thành công sẽ không bao giờ thoả mãn với những giới hạn đang có, và sẽ tìm cách bành trướng về lãnh thổ và bảo đảm “không gian sống” (living space)…Tìm kiếm không gian sống là một quy luật Địa chính trị cơ bản và không thể thay đổi – theo đúng nghĩa đen, là một thực tế của cuộc sống trên trái đất”[4].
Nhờ được hội tụ các yếu tố chủ lực rất thuận lợi về phương diện “địa chính trị” cũng như “địa kinh tế” như: sở hữu nhiều vị trí chiến lược về giao thương (đường bộ, đường hàng không cũng như đường biển), cường quốc dân số, ổn định chính trị, ngôn ngữ và văn hoá mang tính hội nhập cao, truyền thống kiến quốc và vệ quốc thành công, trình độ dân trí phát triển…, trải qua nhiều thế kỷ, đặc biệt, kể từ thế kỷ 21 nầy, Việt Nam trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều thế lực trong bang giao quốc tế.
Thật vậy, không phải chỉ thời nay, giải đất hình chữ S với Biển Đông bao bọc nầy, suốt chặng đường 20 thế kỷ qua, đã là vùng “địa chính trị” từng diễn ra những cuộc tranh chấp, binh biến, xâm lăng, đô hộ; những cuộc chiến tranh sinh tử, một mất một còn, giữa các quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Champa, Chân Lạp Khmer, Xiêm….
Vào đầu thế kỷ 19, sau khi tiêu diệt Nhà Tây Sơn (1802), thu giang sơn về một mối, cơ bản Triều Nguyễn Gia Long đã kiến tạo nên một đất nước Việt Nam thống nhất như chúng ta đang thấy hôm nay. Tuy nhiên, để có được một giải đất hình chữ S duyên dáng bên bờ Biển Đông, một đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập, phồn thịnh hoà bình như hôm nay, muôn thế hệ người Việt chúng ta đã phải trả cái giá máu xương và mồ hôi nước mắt không nhỏ cho công cuộc “vệ quốc và kiến quốc” lẫy lừng trải qua “những ngàn năm lịch sử”.
Nếu đặt công cuộc “vệ quốc và kiến quốc” nầy trong lăng kính “địa chính trị” hôm nay, chúng ta sẽ thấy hiện lên những địa danh, vị trí chiến lược, có thể nói được, là yếu tố quyết định cho một triều đại, một hệ thống chính trị một thời của Việt Nam. Trong số đó phải kể đến THỊ NẠI - QUI NHƠN, một địa danh, một vị trí chiến lược, mà nếu đế quốc Champa giữ được trong trận nam tiến của vua Lê Thánh Tôn năm 1471 thì “Đồ Bàn sẽ không bị xoá tên” và sẽ không có BÌNH ĐỊNH-QUY NHƠN của Việt Nam như hôm nay. Cũng vậy, nếu nhà Tây Sơn không bị đại bại trong trận hải chiến kinh hoàng với hạm đội của Nguyễn Ánh trong đêm “Thị Nại đẫm máu năm 1801”, thì liệu Bắc, Trung, Nam đã về một mối hay chưa; hoặc giả, diện tích Việt nam có thể rộng gấp đôi bây giờ ?
Chính trong cái nhìn đó, xin đóng góp vài gợi ý suy tư trong chủ đề “QUI NHƠN-THỊ NẠI TRONG CHIẾN LƯỢC VỆ QUỐC VÀ KIẾN QUỐC”.
I. ĐỒ BÀN - THỊ NẠI: YẾU HUYỆT VÀ CƠ ĐỒ
Trong vòng 200 năm, từ đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 15, dãi đất dọc theo bờ Biển Đông mang dáng hình chữ “S” mà hôm nay chính là vùng lãnh thổ của nước Việt Nam ta đã từng là vùng đất của ba quốc gia lúc thịnh lúc suy mà “tương quan chiến tranh” chiếm thời gian gần như nhiều hơn “tương quan hoà bình”:
- Phía bắc là Đại Việt với các vua triều Lê mà mạnh nhất là triều đại của vị minh quân Lê Thánh Tôn (1460-1497)[5].
- Phía trung là Champa, cực thịnh thời vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman IV trị vì từ năm 1285 đến năm 1305), suy yếu dần thời Chế Bồng Nga (Po Binnosuor, khoảng từ năm 1328 đến năm 1373)[6], và bị suy vong thời Trà Toàn (? – 1741)[7].
- Phía nam là Chân Lạp (Khmer), một đế quốc hùng mạnh với một lãnh thổ bao la, rực rỡ vào các triều vua Jayavarman VIII (trị vì 1243-1295), Srindravarman (trị vì 1295-1309) )…, để rồi suy tàn sau khi người Thái (Ajutthaya) chiếm thánh địa Angkor và người Champa giành lại những vùng đất phía nam trù phú[8].
Tuy nhiên, “bản đồ của 3 vương quốc bên bờ Biển Đông” đó gần như đã được vẽ lại hoàn toàn sau biến cố lịch sử: chiến dịch “Bình Chiêm năm 1471” của quốc vương Đại Việt, Lê Thánh Tôn; và thời điểm đó cũng là cột mốc ghi nhận vương quốc Champa hùng mạnh một thời ở Đông Nam Á đã trở thành một “nhược quốc” khiêm tốn trấn thủ vùng Panduranga (Phan Rang, Bình Thuận) cho đến khi chính thức bị xoá tên trên bản đồ thế giới vào thế kỷ 17 dưới triều các vua nhà Nguyễn của Việt Nam[9].
1. Từ bài học chiến dịch “Bình Chiêm 1471”:
1.1. Một thoáng nguyên nhân:
Như đã nói trên, vương quốc Champa thời Trà Toàn tương ứng với Đại Việt thời vua Lê Thánh Tôn; và tương quan chính trị giữa vương triều Đại Việt phương bắc và Chiêm Thành phía nam, vốn đã xấu đi từ thời Chế Bồng Nga[10], đã trở thành hai thế lực đối đầu “một mất một còn” kể từ khi Trà Toàn thay thế bào huynh Trà Duyệt lên ngôi vương đế.
Ngoài yếu tố “con người” như cách nhận định của sử liệu “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ” đã dẫn (Ghi chú 7), cuộc chiến sống còn của hai vương quốc kề nhau Việt – Chiêm, như cách nhận định của Graham Allison, “Đó là cuộc chiến được dẫn dắt và thúc đẩy bởi những yếu tố mang tính ‘định mệnh’, hầu như không thể tránh khỏi”[11]; và đây cũng là ý kiến mà tác giả trên đã căn cứ nơi tác phẩm của một văn hào thời Hy Lạp cổ: Cuốn “Lịch sử chiến tranh Peloponnese” của Thucydides, trong đó, có một câu phát biểu đã trở thành một biểu ngữ “bẫy Thucydides”: “Chính sự trỗi dậy của Athens và nỗi sợ hãi mà nó gây ra ở Sparta đã khiến chiến tranh trở thành điều cốt yếu”[12].
Và tất cả những điều trên gần như bàng bạc trong “Sắc chiếu bình Chiêm” của vua Lê Thánh Tôn mà chúng ta có thể đọc thấy qua vài trích dẫn: “Khi Nhân Miếu lên ngôi cả, thì giống loài chúng đã rất đông. Nương chốn Cổ Luỹ như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như tổ kiến. Điên cuồng mất trí, nó xưng bừa là cha chú, gọi đức vua ta là cháu con; mất đức ra oai, lại nhận liều là trời phật, coi nước ta là tôi tớ. Tội ác chất chồng, giấu sao cho nổi? Những lời lăng nhục không thể nêu tường… Trẫm thể lòng thượng đế, nối chí vua cha. Giết kẻ thù chín đời theo nghĩa Xuân thu, định mưu kế vạn toàn cho yên đất nước. Cứu muôn dân thoát khỏi vòng điêu đứng, dẹp nước loạn đã trái đạo lâu năm. Đánh phản nghịch, cứu sinh dân, thánh triết phải tỏ bày uy vũ; trồng mầm nhân, nhổ cội ác, đất trời cũng lấy đó làm lòng…”[13].
Và cả hai đã rơi vào cái “bẫy Thucydides”[14] mà chiến trường quyết định lại là chính đế đô của vương quốc Champa lừng lẫy một thời !
1.2. Đồ Bàn: viễn tượng “địa chính trị”
1.2.1. Quốc đô của hai vương quốc:
Từ thế kỷ thứ 10 đến 15, có thể nói được vương quốc Champa đã trải qua những thăng trầm dâu bể mà dấu ấn lịch sử ghi đậm qua ba tên gọi cũng là ba “quốc danh” hay “quốc đô”: Indrapura (Đồng Dương) phía bắc (Quảng Nam tới Quảng Bình); Vijaya (Chà Bàn hay Đồ Bàn) miền trung (Bình Định tới Quảng Ngãi); và Panduranga (Phan Rang tới Bình Thuận). Riêng kinh đô Vijaya (Đồ Bàn) là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị quan trọng nhất và tồn tại xuyên suốt năm thế kỷ, cho đến khi thất thủ và thuộc về Đại Việt trong trận đại chiến năm 1471[15]. (x. Đồ Bàn. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93_B%C3%A0n).
Chắc chắn, cũng vì chiếm vai trò quan yếu trong vị thế “địa chính trị” đó, nên hơn 300 năm sau, Nhà Tây Sơn đã quyết chọn chính vùng lãnh địa nầy để phát khởi cơ đồ và xây dựng quốc đô mang tên “Hoàng Đế Thành”, như nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Quang ghi nhận: “Trên cùng một địa điểm, lần lượt hiện diện hai toà thành của hai vương triều, hai tộc người cách nhau hơn 300 năm, với hai tên gọi: Đồ Bàn (Champa), Hoàng Đế (nhà Tây Sơn), cùng giữ vai trò kinh đô trong mỗi giai đoạn lịch sử…”[16].
Nhưng để có một khái niệm tổng quát nhưng cũng khá đầy đủ về “vị thế chiến lược” của “Đồ Bàn”, chúng ta có thể đọc lại cách mô tả của tác giả Nguyễn Thanh Quang, một nhà nghiên cứu chuyên sâu về “Qui Nhơn-Bình Định học”:
“Việc xây dựng kinh thành Đồ Bàn cho thấy rằng: người Chăm xưa rất giỏi trong việc sử dụng và kiến tạo địa hình. Một tài liệu viết thời vua Thành Thái “Thành Chà Bàn (Đồ Bàn), dựa vào núi Long Cốt để làm thế vững. Thành hình vuông rộng hơn 10 dặm, mở 4 cửa, xây bằng gạch, rào gỗ, tuy không có hào rãnh mà vẫn kiên cố…”.
H. Parmentier – một kiến trúc sư người Pháp, sau khi khảo sát nghiên cứu, viết về thành Đồ Bàn như sau: “Trên đường cái quan cách thành Bình Định mươi cây số, thấy vết tích một khu thành Chàm, mà kích thước được xếp hàng đầu trong số những công trình quân sự của dân tộc này… Một nhánh sông Bình Định bảo vệ phía Bắc… Tường bằng đất ốp đá ong… tòa thành được tạo bởi những gò đất có tính toán…”. Mặt khác, thành Đồ Bàn còn có tấm lá chắn vững chắc bảo vệ mặt biển, trấn giữ cảng Thị Nại (một thương cảng lớn lúc bấy giờ), cách thành Đồ Bàn khoảng 10km, đó là thành Thị Nại.
Địa thế kinh đô Đồ Bàn cũng chính là địa thế của thành Hoàng Đế được Nguyễn Văn Hiển nhận xét: “Thành Đồ Bàn được xây dựng vào trung tâm của nước, tựa vào thế vững của núi Long Cốt, non xanh bày hàng trước mặt, nước biếc uốn réo xung quanh… bên hữu lấy núi Phong làm lũy, bên tả lấy bể làm hào; núi Cù Mông như rồng cuộn khúc ở phía trước; bến Thạch Tân như cọp hùng cứ ở mặt sau, quả là nơi hiểm trở thiên nhiên vậy”.
Thành Hoàng Đế có quy mô lớn nhất trong hệ thống thành cổ Việt Nam còn đến nay (có chu vi 7.575m). Được coi là nơi “thắng địa”, vị trí cao thoáng, lấy núi Mò O làm tiền án phía Đông, núi Tam Sơn làm lá chắn phía Nam, phía Tây là những dải đồi thấp nối tiếp nhau trải dài tạo tấm lá chắn giăng trước lũy. Ba mặt thành, phía xa là các dòng sông uốn lượn như hào tự nhiên che chắn. Thành được xây dựng trên thế đất hội tụ núi sông liền kề, liên kết điệp trùng, vừa có thế công vừa có thế thủ…”[17].
1.2.2. Miền đất định hình:
Đồ Bàn, thực ra, không chỉ dừng lại ở tầm mức “giá trị chiến lược quân sự” mà, theo cách đánh giá chuyên môn về “địa lý”, còn là “miền đất định hình” toàn bộ cấu trúc xã hội: “Miền đất chúng ta sống vẫn luôn định hình chúng ta. Nó định hình những cuộc chiến tranh, quyền lực, những phát triển về chính trị và xã hội của những dân tộc hiện giờ đang cư trú trên mọi phần của địa cầu (…); không chỉ là cảnh quan tự nhiên – như những rào cản tự nhiên của núi non hoặc sự kết nối của mạng lưới sông ngòi – mà còn cả về khí hậu, nhân khẩu, các khu vực văn hoá và khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các nhân tố như vậy có thể tác động quan trọng đến nhiều khía cạnh khác nhau của nền văn minh, từ chiến lược chính trị và quân sự cho đến sự phát triển xã hội con người, bao gồm cả ngôn ngữ, thương mại và tôn giáo”[18].
Nhận xét trên quả thật không ngoa, khi 200 năm sau, chính vùng đất nầy, đúng hơn, vùng ngoại biên phía đông, đã được các vị tiên vương triều Nguyễn chọn cảng biển Nước Mặn là trung tâm giao thương chiến lược ở tuyến đầu biên giới phía nam; riêng các nhà truyền giáo Kitô giáo phương Tây, cũng đã chọn nơi đây là trung tâm truyền giáo chính thức và cũng là cư sở đầu tiên để kiến tạo chữ Quốc ngữ[19]. Và sau đó một thế kỷ nữa, những “anh hùng áo vải Tây Sơn” đã chọn miền “phế tích Đồ Bàn” để xây dựng “Thành Hoàng Đế”[20], trung tâm của một vương triều, cho dù chỉ tồn tại có mấy chục năm (1771-1802), nhưng đã làm nên một “đế chế oai hùng” của dân tộc Việt vào thế kỷ 18, với những cuộc chiến thắng lẫy lừng quân Thanh phía bắc và quân Xiêm phía nam[21].
1.3. Thị nại thành: Hệ thống phòng thủ đắc địa:
Nếu nhắc đến địa danh Đồ Bàn, quốc đô của vương quốc Champa và sau đó, trên phế tích của “Đồ Bàn” là “Hoàng Đế Thành” của vua Thái Đức nhà Tây Sơn, thì không thể không đề cập tới Thị Nại, một thương cảng[22] và quân cảng quan trọng bậc nhất của cả hai triều đại trên; đây cũng là “vị trí chiến lược”, một bức “phên dại thiên nhiên” cũng là yếu huyệt để che chắn cho thành Đồ Bàn thời Champa hay Hoàng Đế thành, Qui Nhơn thành thời Tây Sơn.
Chúng ta có thể đọc lại đôi dòng giới thiệu về vị trí chiến lược của Thị Nại trong một khảo luận khá chuyên sâu về của tác giả Đào Đức Chương: “Vào cuối thế kỷ thứ 10, vua Chăm là Hari Varman II (988- 998), dời đô đến miền Bắc Vijaya, lập kinh thành Đồ Bàn, nay là thôn Bắc Thuận và Nam Tân (tức thôn Nam An cũ thuộc phạm vi thành, hợp nhất với Tân Ninh) thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn. Kinh đô mới có địa thế phòng thủ tốt. Ba mặt Tây, Nam, Bắc đều được núi non che chở, phía Đông là đồng bằng có núi Long Cốt (cao 43 mét) làm tiền án ngó ra đầm Thị Nại. Vì vậy, muốn chiếm Đồ Bàn phải tiến quân vào Thị Nại, yết hầu của kinh đô. Nơi đây kín đáo, có thể chứa cả ngàn chiến thuyền, thuận tiện cho việc đổ bộ cùng lúc hàng vạn quân. Bởi ưu thế đó, Thị Nại đã gắn liền với lịch sử qua những trận đánh lớn, một mất một còn. Theo Việt Sử Tân Biên và các tài liệu sử khác, ngót 10 thế kỷ qua, đầm Thị Nại ít nhất cũng đã 12 lần có mặt trong quân sử”[23].
1.4. Tan yếu huyệt, mất cơ đồ.
Trong thời vương quốc Champa, cảng Thị Nại trải qua bốn cuộc đại thuỷ chiến; trong số đó có hai lần chiến thắng nghiêng về Champa[24] và hai lần Champa đại bại[25]. Riêng lần sau cùng khai diễn vào năm Canh Dần (1470) và kết thúc vào năm Tân mão (1471) trong chiến dịch “Bình Chiêm sách” của vua Lê Thánh Tôn, khi tiền đồn Thị Nại vỡ trận cũng là lúc Đồ Bàn thất thủ sau đó không lâu[26]. (x. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)[27].
Có thể nói được, vương quốc Champa một thời lừng lẫy với kinh đô Đồ Bàn và quân cảng Thị Nại bị xoá tên từ năm 1471. Vùng đất nầy chính thức trở thành Thừa Tuyên Quảng Nam thuộc Đại Việt. Vua Champa là Trà Toàn bị bắt mang về kinh; sau mấy tháng lâm bệnh chết và bị chém bêu đầu như một tên tội phạm. Một bộ tướng của Trà Toàn là Bô Trì Trì mang theo một nhóm tàn quân vào cát cứ tại Phan Rang tái lập quốc và xin triều cống nhà Lê như một tiểu quốc ngang tầm với Nam Bàn và Hoa Anh lúc bấy giờ[28].
Phải chăng vì biết vận dụng hiệu quả các “yếu điểm chiến lược” của Thị Nại mà người Champa đã hai lần chiến thắng cuộc xâm lược của nhà Minh (1284) và nhà Trần (1377), giữ vững kinh đô Đồ Bàn. Trong khi đó, với sự chủ quan và sơ hở nhiều mặt, triều đình Champa của Trà Toàn đã để mất Thị Nại. Đúng là: khi “yếu huyệt đã tan” thì “cơ đồ cũng diệt vong” !
(Còn tiếp)
Tác giả: Trương Đình Hiền
Ý kiến bạn đọc
Văn phòng Tòa Giám mục: Thông báo về việc Bổ nhiệm Giám mục phó Giáo phận Qui Nhơn
Bổ nhiệm Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh và Giám mục Phó Giáo phận Qui Nhơn
Giáo xứ Gia Chiểu cử hành Thánh lễ Vọng Phục Sinh 2026
Xin giới thiệu bài Thánh ca của Nhạc sĩ Sơn Ca Linh: Dạ khúc Emmau
Đức Thánh Cha Lêô: Chúa Phục Sinh mời gọi chúng ta ngước nhìn lên cao và mở rộng trái tim
Tòa Giám mục Qui Nhơn: Thông báo về việc đọc Kinh Nguyện Thánh Thể trong thánh lễ