Con đường cái quan đi qua vườn dừa Bồng Sơn
QUA MỘT TỈNH MIỀN TRUNG (BÌNH ĐỊNH NĂM 1913)
Michel Raineau
La Revue Mondaine Oranaise, 15/1/1913
Trung kỳ là miền đất nghèo, dân cư thưa thớt. Những dãy núi dốc đứng, cằn cỗi trải dài dọc theo bờ biển. Sâu trong nội địa là những bãi cát rộng lớn uốn lượn, không có thảm thực vật, và vô số ngọn đồi trọc với những bụi cây còi cọc mọc rải rác, khiến phong cảnh trở nên u buồn, một nỗi buồn mà ngay cả khi nhìn thấy những ngọn núi cũng không thể xua tan được.
Tuy nhiên, một số tỉnh thành lại là ngoại lệ đáng phấn khởi, trong đó có Bình Định. Độ màu mỡ của đất đai và mật độ dân số ở đây sánh ngang với những vùng màu mỡ nhất của Đồng bằng Bắc bộ.
Hai nơi đáng chú ý là Thành (Bình Định) và Qui Nhơn. Thành Bình Định, nằm giữa những cánh đồng lúa, xây dựng giống như các thành trì ở các tỉnh khác của Vương quốc, theo thiết kế của một kỹ sư người Pháp từ rất lâu trước thời bảo hộ. Những bức tường thành kiểu Vauban và một con hào rộng bảo vệ nó khỏi bất kỳ kẻ thù nào bên ngoài; lính gác trên tháp canh mỗi tối có thể ngủ ngon giấc; những kẻ man rợ đã biến mất từ lâu. Kẻ thù duy nhất mà những công sự này có thể làm chậm lại – mà không ngăn chặn được – là lối sống phương Tây quá xa lạ với nền văn minh bất biến mà người Việt Nam đã tự hào từ nhiều thế kỷ qua.
Đối diện với thành cổ như bị đóng băng trong quá khứ, Qui Nhơn, một cảng nhỏ ven biển, đang ngày càng phát triển. Hàng năm, những ngôi nhà mới kiểu Âu, duyên dáng và tiện nghi mọc lên bên cạnh những cửa hàng sang trọng của người Hoa và những mái nhà tranh của người bản địa, những con phố rợp bóng cây tạo nên một khung cảnh vô cùng quyến rũ. Sau Tourane, đây là cảng nhộn nhịp nhất ven bờ biển.
Vừa ra khỏi Qui Nhơn, tất cả những gì bạn thấy trước mắt là những đồng lúa trải dài vô tận, điểm xuyết những ngọn đồi phủ đầy cây cối và vô số làng mạc, tạo thành những mảng tối rộng. Những ngôi làng này thực sự là những ốc đảo xanh tươi; những mái nhà ẩn mình dưới thảm thực vật tươi tốt của những khu vườn nhỏ, mỗi khu vườn được hàng rào tre bảo vệ và có một lối vào hẹp.
Từ xa, chếch về phía trái, vẽ hàng thẳng màu xanh của những ngọn đồi đầu tiên ngăn cách miền Trung với vùng cao nguyên. Đây là nơi đây sinh sống những người dân tộc khác biệt với người Việt, cả về phong tục và ngôn ngữ. Họ được biết đến với tên gọi chung là "Mọi", có nghĩa là man di hoặc hoang dã. Trên thực tế, nền văn minh nguyên thủy của họ rất giống với nền văn minh của những người hàng xóm trên đồng bằng.
Gần Qui Nhơn, dọc theo con đường, hai tháp gạch cổ với kiến trúc trang nhã gợi nhớ đến các công trình kiến trúc bên Ấn Độ. Những ngôi tháp tương tự khác có thể được tìm thấy khắp tỉnh, được xây dựng trên mô đất cao. Cùng với những tàn tích mà lưỡi cày thỉnh thoảng chạm phải ở rìa cánh đồng, đây là những dấu tích cuối cùng về quyền lực của người Chăm ở đây. Một số hậu duệ của họ sống rải rác khắp miền nam Trung kỳ. Thời gian đã phá hủy hầu hết các công trình kiến trúc mà họ để lại, và những ngôi tháp này vẫn còn đấy nhờ vào sự mê tín của dân bản địa, nhất là nhờ sự chăm sóc của Trường Viễn Đông.
Tỉnh này được nhiều con sông tưới tiêu, nước dâng lên ngập đồng trong mùa lũ hàng năm, cho phép người dân gặt hai vụ một năm. Thảng hoặc, khi hạn hán kéo dài làm chậm lại mùa thu hoạch quá lâu, những hàng dài đàn ông và phụ nữ, người mang bao tải, người mang giỏ trên chiếc sào, đi từ Phú Yên ra hoặc Quảng Ngãi vào Bình Định. Họ đến gõ cửa những kho thóc, vốn không bao giờ trống rỗng, của những người hàng xóm may mắn hơn.
Phần phía bắc của tỉnh, thuộc huyện Bồng Sơn, mang một nét đặc trưng riêng nhờ vô số những vườn dừa; những rặng dừa cao trông giống như một khu rừng rậm rạp, bên dưới che phủ những cánh đồng, dòng suối và làng mạc.
Người dân địa phương cần cù biết cách tận dụng tối đa cây dừa của họ: nước cốt dừa được dùng làm dầu mỹ phẩm hoặc dầu dưỡng tóc. Bản thân quả dừa, được bổ đôi và gắn tay cầm, biến thành cái gáo múc nước, xơ vỏ dừa trở thành những sợi dây thừng chắc chắn qua bàn tay khéo léo của các phụ nữ.
Một khía cạnh khác, thậm chí còn đẹp như tranh vẽ của góc nhỏ Bình Định này là những ngọn núi. Nằm san sát nhau và được cây cối che phủ, chúng bao quanh những thung lũng màu mỡ, được tô điểm bởi những khúc quanh co thất thường của dòng suối. Vùng đất này sở hữu một vẻ đẹp hoang sơ, nơi sự tĩnh lặng gần như thiêng liêng của núi non chỉ bị phá vỡ bởi tiếng nước chảy: những dòng suối đổ xuống, như tiếng kêu ai oán của một con hoẵng đang chạy trốn biến thành tiếng gầm của một con hổ.
Ở Bình Định, cũng như ở Bồng Sơn, nhưng đặc biệt là ở Bình Định, những ngôi nhà phản ánh sự khá giả tương đối của cư dân; chúng mang một vẻ ngoài tươm tất mặc dù chỉ là tường đất và mái tranh. Mái nhà này thường che chở một mái nhà khác nằm bên dưới, bản thân nó lại được đặt trên một mái nhà thứ ba làm bằng ván; ngày xưa, để trừng phạt tỉnh thành nổi loạn, một vị vua đã cấm thần dân của mình lợp ngói lên mái nhà.
Hầu hết các thôn xóm đều nằm ngoài con đường cái quan, con đường chạy từ Sài Gòn đến Hà Nội, xuyên suốt chiều dài đất nước. Cho đến khi Pháp chiếm đóng, đây là con đường duy nhất xứng đáng với tên gọi này. Từ đó, nhiều con đường khác đã được xây dựng để phục vụ các trạm hải quan trên biển. Nhưng không con đường nào đẹp mắt bằng con đường cái quan; ở nhiều nơi, hai bên đường được bao phủ bởi những cây cổ thụ với tán lá dày đặc tạo thành một mái vòm kín mít, che cả nắng lẫn mưa. Mãi cho đến những ngọn đồi đầu tiên của Bồng Sơn, con đường chạy gần như liên tục qua một vùng đất bằng phẳng, hầu như không nhô cao hơn mặt đất, băng qua các con sông dòng suối trên những cây cầu ít nhiều vững chắc.
Ở những nơi sông quá rộng không thể xây cầu, chiếc phà sẽ giúp đỡ du khách. Đây là cơ hội tuyệt vời để những hành khách thảnh thơi thưởng thức một tách trà trong khi chờ người lái phà và tìm chút nghỉ ngơi tránh nóng tại quán trọ gần đó. Bốn cọc gỗ trông bình thường, một mái tranh, ba bức tường đất – đó là quán trọ ở đất nước này. Bên trong, một tấm ván rộng cách mặt đất vài tất là nội thất chính. Du khách và thương nhân, mệt mỏi hoặc bị bất chợt màn đêm buông xuống, họ dùng nó làm giường, trừ khi thích ngủ trên sàn nhà, dù cũng mềm mại không kém! Bà chủ quán trọ – thường là một bà cụ – phục vụ khách hàng trong khi nhai miếng trầu cau luôn có sẵn. Nhiều quán trọ như vậy nằm dọc ven đường; chúng được đánh giá cao, khách qua đường vui vẻ tìm thấy nơi nghỉ ngơi và giải khát ở đó với một số tiền rất khiêm tốn.
Vào thời Minh Mạng, các trạm dừng chân được xây dựng cách nhau 20 km. Đây là một dạng nhà trọ cho khách lữ hành, mở cửa cho bất cứ ai, nơi họ có thể trú ẩn miễn phí.
Thỉnh thoảng, con đường lại đi qua các khu chợ. Thật là một cảnh tượng thú vị khi thấy các bà các cô đến từ sáng sớm, đi thành hàng một dọc theo những con đường, bước chân nhanh và im lặng. Một số người, để không bị muộn, đã rời nhà từ rất sớm, trước khi gà gáy.
Vài ngôi chợ có sáu, bảy trăm người hoặc hơn, ngồi chồm hổm, người mua kẻ bán đưa ra giá cả, nép mình dưới những túp lều tranh lợp mái tôn, phía sau là ngôi đình làng: Thịt heo, thịt trâu (từ những con vật quá già không còn làm việc), cá tươi, cá khô, trái cây vườn, gia cầm, lụa và vải vóc địa phương được bày bán, trao đổi. Sau một hoặc hai giờ, chợ vắng tanh; chẳng mấy chốc, khi người giữ chợ dọn dẹp mọi thứ về chỗ cũ, chỉ còn chó và heo ở lại, lang thang tìm kiếm thức ăn thừa.
Sân khấu ngoài trời cũng là một địa điểm tụ họp phổ biến khác của người dân địa phương, những người luôn nhiệt tình có mặt. Ngay khi có thông tin về một đoàn kịch ở đâu đó, tin tức sẽ lan truyền khắp vùng; đàn ông, đàn bà, trẻ em và người già đều đổ xô đến. Sân khấu được dựng ngoài trời trên cánh đồng lúa vừa thu hoạch xong. Buổi diễn bắt đầu vào khoảng tám giờ tối, kéo dài đến rạng sáng. Khán giả thích thú đứng theo dõi những diễn biến bất ngờ của vở kịch; tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng cử chỉ và biểu cảm khuôn mặt của các diễn viên thu hút họ hơn nhiều so với lời thoại, được nói bằng tiếng Hán văn chương mà không ai trong số khán giả có thể hiểu được. Mặc dù vậy, sân khấu vẫn là một trong những hình thức giải trí thời thượng nhất: một số thị trấn, nhân dịp các lễ hội nhất định, thuê các đoàn kịch, và họ không yêu cầu gì ngoài thức ăn để đổi lại.
Người Việt thích những thú vui này vì chúng mang lại sự giải trí và thư giãn khỏi cuộc sống buồn tẻ gần như liên tục dành cho công việc đồng áng. Thật vậy, việc chăm sóc ruộng lúa đòi hỏi sự quan tâm của họ gần như quanh năm: vụ thu hoạch tháng Tư vừa mới bắt đầu, và những người mót lúa vẫn đang chạy khắp nơi tìm kiếm những bông lúa còn sót lại, thì người nông dân lại vội vã vác cày lên để vụ lúa tiếp theo kịp chín trước khi mùa lũ tháng Mười Một ập đến.
Phố người Hoa ở Qui Nhơn
Buổi chợ sáng ở Qui Nhơn năm 1887
Những người bán dầu
(Photo: Charles Lemire)