Các tranh cãi tại Côrintô

Thứ bảy - 01/03/2014 08:34
Lm. Peter Edmonds SJ

Trong chu kỳ các bài đọc Chúa Nhật, chúng ta đang bước vào Mùa Thường Niên năm A, và trong một vài tuần kế tiếp nhau, chúng ta sẽ nghe các bài đọc thứ II trích từ thư thứ nhất của Thánh Phaolô gởi tín hữu Côrintô. Qua những trích đoạn này, Thánh Phaolô đã chứng tỏ tài năng là một nhà thần học, chủ chăn và là một văn sĩ khi sử dụng những tương phản để làm nổi bật vấn đề.

Vào các tuần lễ đầu tiên của mỗi năm, khi Mùa Giáng Sinh chấm dứt, các bài đọc II được trích từ thư thứ nhất của Thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Côrintô. Trong năm A này, chúng ta nghe đọc 7 trích đoạn từ phần đầu thư mà sau lời chào hỏi Thánh Phaolô đã cố gắng hóa giải những tranh cãi và chia rẽ trong cộng đoàn Côrintô do người nhà của Chloe báo cáo cho ngài (1 Cr 1:11). Ngài viết thư này khi ở Ephesus và dù vắng mặt ngài vẫn luôn cảm thấy: “còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh” (2 Cr 11:28). Nhờ sự khủng hoảng nơi cộng đoàn này mà chúng ta thấu hiểu tâm hồn của Thánh Phaolô như là một nhà thần học, biết được tài năng chủ chăn của ngài và thán phục khả năng viết lách của ngài. Ta hãy tập chú vào những mối tương phản rõ rệt trong những đoạn trích được lựa chọn làm các bài đọc trong phụng vụ.

1 Cr 1:1-3  –  Lời chào [Chúa Nhật II Năm A]
 
Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm Tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi, kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Phaolô mở đầu bức thư với lời chào. Ta lưu ý đến sự tương phản giữa hai thế giới sống của ngài. Vào thời đó, người ta có quy ước mở đầu thư bằng tên của người gởi và người nhận, kết thúc với lời chúc phúc và sức khỏe. Thánh Phaolô cũng tuân theo tục lệ này nhưng ngài còn nhắc đến một thế giới vô hình khác. Trong thế giới đó, Thiên Chúa là ưu việt. Đối với Phaolô, Thiên Chúa chỉ có một, tương phản với “nhiều thần thánh và lãnh chúa” được nhận biết trong các thành phố ngoại giáo như Côrintô chẳng hạn (1 Cr 8:5-6).  Đây là Thiên Chúa Cha và do ý muốn của Ngài mà Thánh Phaolô được kêu gọi làm tông đồ. Ngay trong phần mở đầu thư này, Phaolô đã 4 lần nhắc đến Đức Giêsu Kitô. Trong các thư khác cũng như ở thư này, Thánh Phaolô xác định Đức Giêsu là Đấng Kitô, Đấng Cứu Thế mà dân Israel trông đợi (Rm 9:5). Trong lời chào, hai lần Thánh Phaolô gọi Đức Giêsu là “Đức Chúa”. Đối với Phaolô,  quyền lãnh chúa của Đức Giêsu tương phản với quyền của hoàng đế  Roma, người tự xưng là lãnh chúa của toàn đế quốc Roma rộng lớn, có người đại diện là thống đốc ở Côrintô (Cv 18:12). Còn đối với các tín hữu Côrintô, họ cũng được gọi là các thánh, một dân thánh được dành riêng để phục vụ Thiên Chúa, cũng như các tín hữu ở khắp nơi được gọi là kitô hữu. Thánh Phaolô cầu chúc cho họ được ân sủng và bình an: ân sủng là ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban cho họ trong Đức Kitô (Rm 3:24); bình an là tình trạng hòa giải hiện có giữa họ và Thiên Chúa nhờ công nghiệp của Đức Kitô (Rm 5:1, 11). Lời chào mở đầu này mời gọi chúng ta nhận ra thế giới vô hình này của Thánh Phaolô mà chúng ta cũng đang sống trong đó.

1 Cr 1:10-13, 17 – Vấn đề [Chúa Nhật III Năm A]
 
Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: "Tôi, tôi thuộc về Phaolô; - "Tôi về phe Apollô"; - "Còn tôi, tôi về phe Kêpha"; - "Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô". Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.

Trích dẫn thứ hai bắt đầu với một câu cho thấy vấn đề nổi cộm trong các đoạn trích của thư này mà chúng ta sẽ đọc trong Năm A.

Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. (1:10)

Sự tương phản trong câu này đã quá rõ. Một mặt, theo lối viết của mình trong thư đầu tiên (1 Tx 2:1), Phaolô gọi các tín hữu ở Côrintô là “anh em” (tiếng Hy lạp là: adelphoi). Phaolô hiểu rằng nhờ điều mà Đức Kitô đã hoàn tất qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, bây giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa và đồng thừa kế với Đức Kitô (Rm 8,17). Đã là một gia đình thì phải nhất trí với nhau và một lòng một ý. Đây là sự nhất trí có nguồn cội từ Đức Kitô; ở nơi khác, Thánh Phaolô thúc giục cộng đoàn Roma: “anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15:7). Thế nhưng sự chia rẽ vẫn xảy ra nơi mỗi gia đình. Tại Côrintô, các tín hữu không gắn bó với Đức Kitô cho bằng với các thầy dạy của họ - như với Apollos, với Cephas (được nhiều người biết đến với tên gọi Phêrô), hoặc ngay cả với Phaolô. Vậy là họ trở thành đối thủ của nhau. Apollos  được sách Công vụ tông đồ nói là: “người có tài hùng biện và thông thạo Kinh Thánh” (Cv 18:24). Ông quê ở Alexandria,  xứ Ai Cập, mà người con danh tiếng của xứ sở này là Philo đã đặt nặng dấu ấn trong di sản triết học của Do Thái giáo. Kitô giáo của Apollos đã hấp dẫn các triết gia trong số những người Corintô. Thánh Phêrô thì bị Thánh Phaolô cự lại trong thư gởi tín hữu Galát vì đã giải thích Lề luật Do Thái theo kiểu thỏa hiệp (Gl 2:11-14) – có lẽ Phêrô còn gắn bó với các thực hành của người Do Thái mà Đức Kitô cho rằng đã lỗi thời. Đây là điểm bắt đầu cho huấn giáo của Thánh Phaolô: “Ai đã mê hoặc anh em là những người đã được thấy hình ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt?” (Gl 3:1). Đoạn thư này mời gọi mọi người nhìn về thập giá được trưng bày trong mọi nhà thờ của chúng ta.

1 Cr 1:26-31 – “trong Đức Kitô” [Chúa Nhật IV năm A]
 
Anh em thân mến, anh em hãy xem ơn kêu gọi của anh em: Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng. Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người. Chính do Người mà anh em ở trong Chúa Giêsu Kitô, Ðấng do Thiên Chúa, đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho chúng ta, ngõ hầu, như đã chép: "Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa".

Sự tương phản trong đoạn trích thứ ba này là giữa người Côrintô với Đức Kitô. Có 3 điểm được nêu lên. Người Côrintô được diễn tả là: “đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái”. Thánh Phaolô nói “đâu có mấy kẻ”, bởi vì cũng có luật trừ. Trong thư 1 Rm được viết từ Côrintô có nói rằng ông Gaius có một ngôi nhà đủ lớn để Phaolô nương náu và chứa cả hội thánh tại đó, còn Erastus , “quản lý kho bạc của thành phố”, là một tín hữu (1 Cr 1:14; Rm 16:23); nhưng phần nhiều người Côrintô là nô lệ và thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội (7:21). Trong cùng đoạn này, 3 danh hiệu được gán cho Đức Kitô: Ngài là “sự công chính, thánh hoá và cứu chuộc”. Nhờ Đức Kitô, chúng ta được trong sạch và được Thiên Chúa tha thứ hết, chúng ta có thể sống thánh thiện vì đã được giải thoát khỏi chế độ tàn độc của tội lỗi. Hai nhóm tương phản gồm 3 điểm này được nối lại với nhau bằng một mệnh đề: chính nhờ Thiên Chúa mà anh em “được hiện hữu trong Đức Kitô”; chúng ta gặp lại lối diễn tả này trong lời chào đầu thư khi mà người Côrintô được cho là “những người được thánh hiến trong Đức Kitô” (1:2). “Trong Đức Kitô” nói lên sự kết hiệp giữa Đức Kitô và kitô hữu. Trong đoạn khác, Thánh Phaolô nói rằng: “Ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới” (2 Cr 5:17). Những ai sống trong Đức Kitô thì đã đủ giàu có và hãy hãnh diện về điều này.

1 Cr 2:1-5 – Mầu nhiệm của Thiên Chúa [Chúa Nhật V Năm A]
 
Anh em thân mến, phần tôi, khi tôi đến với anh em, tôi không đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan; tôi đến công bố bằng chứng của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi, chính trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy mà tôi đã đến với anh em; lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.
 
Trích đoạn này bắt đầu với lời của Thánh Phaolô nói về mình; bản văn tiếng Hy Lạp mở đầu rằng: “Và tôi”. Lại một lần nữa, Thánh Phaolô dùng sự tương phản để lý luận. Sự tương phản ở đoạn trước là giữa các tín hữu Côrintô với Đức Kitô. Lần này là sự tương phản giữa chính Phaolô và Thiên Chúa, hay đúng ra là nói về một vài thuộc tính của Thiên Chúa. Ngài nói về cá nhân mình, thú nhận rằng lúc bắt đầu sứ vụ tại Côrintô ngài đã kinh nghiệm được “sự yếu kém, sợ sệt và run rẩy”. Sau này, trong thư thứ 2 Cr, ngài trích dẫn lời của các đối thủ nói về mình rằng “Trong thư thì nghiêm khắc và hùng hổ; nhưng khi có mặt thì nhu nhược, nói chẳng ra hồn” (2 Cr 10:10). Sứ điệp của ngài cũng là một “scandal” vì nói về một Đức Giêsu Kitô bị đóng đinh”. Trong thế giới Roma, sự ghê tởm là câu trả lời cho từ “đóng đinh”.  Cicero, một luật gia Roma, đã nói về khổ hình đóng đinh là hình thức xử tử quá tàn bạo, không chấp nhận được cho công dân Roma.

Trên bình diện nhân loại, Thánh Phaolô có thể thấy trước sự tiến triển chậm chạp khi rao giảng một Tin Mừng như thế nơi một thành phố thương mại năng động, đầy dẫy ngẫu tượng và đền thờ của tôn giáo bình dân. Nhiệm vụ của ngài chừng như bất khả thi, thế nhưng nghĩ như vậy là đánh giá thấp quyền năng Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa. Thiên Chúa được để cập ở phần đầu và phần cuối của đoạn trích. Phần đầu nói về mầu nhiệm Thiên Chúa; một mầu nhiệm như vậy không phải là điều có thể làm sáng tỏ nhưng để nói lên rằng đó là một chân lý luôn có điều mới mẻ để tỏ lộ. Ở phần cuối thư gởi tín hữu Roma, Thánh Phaolô nói rằng Tin Mừng của mình là một “mặc khải của mầu  nhiệm được giữ kín tự ngàn xưa mà nay được biểu lộ” (Rm 16:25). Thánh Phaolô lập lại ở đây điều ngài đã viết trong thư gởi tín hữu Thêxalônica rằng Tin Mừng của ngài đến với họ “không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.” (1 Tx 1:5). Đây là một mầu nhiệm còn thẳm sâu hơn bất cứ lời dạy nào của con người, dù là của Apollos, của Cephas hay của chính Phaolô.

1 Cr 2:6-10 – Sự Khôn Ngoan nhiệm mầu và giấu kín – [Chúa Nhật VI A]
 
Anh em thân mến, chúng tôi có bàn giải sự khôn ngoan với những người toàn thiện, mà đó không phải là sự khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của những bậc vua chúa thế trần, hạng người đã bị dồn vào chỗ hư vong. Nhưng chúng tôi thuyết sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa, vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở, để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi. Sự khôn ngoan đó, không một ai trong các vua chúa thế trần đã biết tới: vì giả thử nhận biết, hẳn họ đã không đóng đinh Chúa sự hiển vinh. Nhưng chúng tôi rao giảng như lời đã chép: "Sự mắt chưa từng thấy và tai chưa từng nghe, và lòng người cũng chưa từng mơ ước tới, đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm ra cho những ai yêu mến Người". Bởi chưng Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi, do Thánh Thần của Người.

Thánh Phaolô tiếp tục đưa ra những tương phản; tương phản trong đoạn này là giữa hai loại khôn ngoan. Apollos có thể nói nhiều về khôn ngoan (1:12). Các nhà thông thái đến từ Alexandria, giống như Apollos, nói về sự khôn ngoan được gán cho Solomon trong các sách khôn ngoan của Cựu Ước và họ cũng rất quen thuộc với sự khôn ngoan của Plato và các triết gia Hy Lạp khác. Nhưng Thánh Phaolô lại rao giảng sự khôn ngoan khác, sự khôn ngoan của “Chúa vinh hiển” bị đóng đinh. Ngài nói về sự khôn ngoan này với ngôn ngữ quen thuộc như khi nói về mầu nhiệm trong thư gởi tín hữu Roma: ngài là người mà “Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thưở để chúng ta được vinh hiển. Trong việc giữ đạo Do Thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.” (Gl 1:14), Thánh Phaolô tìm thấy bằng chứng cho sự khôn ngoan mới mẻ này trong sách ngôn sứ Isaiah. Không người trần mắt thịt nào có thể nhận biết được sự khôn ngoan mới mẻ này được biểu lộ trong thập giá. Thời xa xưa, các ngôn sứ như Isaiah chẳng hạn đã nói lên sứ điệp thiêng linh của mình vì họ được Thánh Thần linh hứng (Is 61:1). Ngày nay, cũng chính Thánh Thần này đang dạy dỗ một sự khôn ngoan mới mẻ mà chỉ những ai trưởng thành về đường thiêng liêng mới có thể hiểu thấu. Và như Thánh Phaolô đã lý luận ngắn gọn, những người Corintô vẫn còn là những người “sống theo tính xác thịt” chứ không phải “sống theo Thần khí” (3:1). Người sống theo Thần Khí thì không được phép để cho sự ghen tuông và tranh cãi gây tổn hại cho cộng đoàn của mình như lời báo cáo của người nhà Chloe (1:11; 3:3). Thần Khí sẽ giúp họ tìm kiếm “sự sâu thẳm của Thiên Chúa”.
 
1 Cr 3,16-23 – Đền Thờ của Chúa Thánh Thần [Chúa Nhật VII năm A]
 
Anh em thân mến, Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Nếu ai xúc phạm tới đền thờ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt người ấy. Vì đền thờ của Thiên Chúa là thánh, mà chính anh em là đền thờ ấy.

Ðừng có ai lừa dối mình. Nếu có ai trong anh em cho mình là người khôn ngoan ở đời này, thì kẻ ấy hãy nên điên dại để được khôn ngoan: vì sự khôn ngoan của thế gian này là sự điên dại đối với Thiên Chúa, vì có lời chép rằng: "Chính Người bắt chợt những người khôn ngoan ngay trong xảo kế của họ". Lại có lời khác rằng: "Chúa biết tư tưởng của những người khôn ngoan là hão huyền". Vậy đừng có ai còn tự phô trương nơi loài người. Vì tất cả là của anh em, dù là Phaolô, hay Apollô, hoặc Kêpha, hoặc thế gian, sự sống hay sự chết, hoặc hiện tại hay tương lai. Tất cả là của anh em, nhưng anh em thuộc về Ðức Kitô, và Ðức Kitô thuộc về Thiên Chúa.
 
Trong lời chào đầu thư, người Côrintô được xem như là Giáo Hội của Thiên Chúa  (1,2). Thánh Phaolô có ý muốn dịch từ “qahal” trong tiếng Do Thái, một cộng đoàn dân Israel mà Chúa đã thành lập trong hoang địa từ nhiều thế kỷ trước để trở thành dân Thiên Chúa (Xh 19,6). Giờ đây, Thánh Phaolô lại gán cho họ một tước hiệu khác để dẫn chúng ta đến với một tương phản: ngài gọi họ là đền thờ của Thiên Chúa. Họ mới vừa biết được một định nghĩa mới về sự khôn ngoan thì họ cũng phải biết một loại đền thờ mới. Trong số họ có những người dân ngoại mới trở lại đã quen đi đến các đền miếu trong thành phố, thờ cúng nhiều ngẫu tượng ở đấy (8,7). Những người mới trở lại từ các Hội Đường Do Thái như Crispô chẳng hạn (1,14; Cv 18,8) cũng sẽ phải trân trọng đền thờ Giêrusalem, nơi mà hy lễ hằng ngày vẫn còn tiếp tục được dâng lên Thiên Chúa, nơi mà 16 năm sau đã bị đoàn quân Roma phá hủy. Thánh Phaolô nói rằng giờ đây chính họ là đền thờ của Chúa Thánh Thần và, mang âm hưởng của lời chào đầu thư, ngài nhắc họ về sự thánh thiện của đền thờ thân xác mình (1,2). Một đền thờ như thế sẽ không thể nào bị phân chia. Sự chia rẽ sẽ đuổi Chúa Thánh Thần ra khỏi đền thờ.  Thánh Thần này còn lớn hơn bất cứ cá nhân nào, ngay cả Phaolô, Apollô hay Kêpha. Và tất cả đền thuộc về Đức Kitô như Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa. Đây là kết quả của sự khôn ngoan mới mà Chúa Thánh Thần mang đến. Thánh Phaolô tìm thấy bằng chứng Kinh Thánh cho sự khôn ngoan mới này trong lời của ông Gióp (G 5,13) và Thánh vịnh gia (Tv 94,11).

1 Cr 4,1-5 – Những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa [Chúa Nhật VIII năm A]
 
Anh em thân mến, như vậy người ta coi chúng tôi như những thừa tác viên của Ðức Kitô, và những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Do đó, người ta đòi hỏi nơi những người phân phát các mầu nhiệm là mỗi người phải trung tín. Phần tôi, tôi không lấy làm quan trọng khi bị anh em hay toà án nhân loại đoán xét; nhưng tôi cũng không đoán xét chính mình tôi. Vì chưng, mặc dầu lương tâm không trách cứ tôi điều gì, nhưng không phải vì thế mà tôi đã được công chính hoá. Ðấng đoán xét tôi chính là Chúa. Vì thế, anh em đừng đoán xét trước thời gian cho đến khi Chúa đến, Người sẽ đưa ra ánh sáng những điều giấu kín trong bóng tối và phơi bày những ý định của tâm hồn; và bấy giờ Thiên Chúa sẽ ban khen tương xứng cho mỗi người.
Từ “Thiên Chúa” đã mở đầu và kết thúc cho đoạn thư này. Đức Kitô cũng được đề cập đến; trong vai trò thẩm phán, Ngài sẽ đến và đưa ra ánh sáng những điều giấu kín trong bóng tối. Tương phản trong đoạn này là sự phân biệt giữa đoán xét của Thiên Chúa và con người. Đối với Thánh Phaolô, chúng ta đang sống trong thời gian giữa sự phục sinh của Đức Kitô và ngày Quang Lâm (1 Tx 1,10). Chính Phaolô cũng không thoát khỏi sự phán xét; ngài biết rằng dù mình đang chạy nhưng vẫn có nguy cơ bị loại khỏi cuộc đua (9,27). Ngài đã tự giới thiệu mình là một tông đồ (1,1), nhưng bây giờ ngài viết ở số nhiều để đồng hóa mình với Apollô và Kêpha như là “những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Họ là những người làm công trong khu vườn của Thiên Chúa: ‘Tôi trồng, Apollô tưới, chính Chúa cho mọc lên” (3,5). Họ là những thợ xây nhà Thiên Chúa: “Theo ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi đặt nền móng như một kiến trúc sư lành nghề, còn người khác thì xây trên nền móng đó. Nhưng ai nấy phải coi chừng về cách mình xây cất” (3,10). “Những người phân phát” (tiếng Hy Lạp là oikonomos) được dùng trong thư gởi các tín hữu Roma để gọi ông Erastus là “người quản lý kho bạc của thành phố”. Chúng ta đọc trong Tin Mừng Thánh Luca dụ ngôn về “người quản lý bất trung” đã léo lận tiền bạc của ông chủ (Lc 16,1- 8) và bị đem ra trước ông chủ để giải thích về hành vi của mình. Lời cảnh báo rằng mọi người chúng ta sẽ phải ra trước tòa phán xét của Chúa (Rm 14,10) được dùng không chỉ  như lời biện hộ cho quyền bính tông đồ của Thánh Phaolô mà còn là lời mời gọi các tín hữu Côrintô chấm dứt sự chia rẽ và những tranh cãi.

Ta có thể kết luận với một vài điểm chung chung. Thư này được viết sớm hơn bất kỳ Tin Mừng nào: thường được cho là vào khoảng năm 54 AD; Tin Mừng đầu tiên là Tin Mừng Marcô được viết vào năm 70 AD. Chính vì thế mà thư này đã là nhân chứng cho đời sống Kitô giáo sớm hơn các Tin Mừng.

Các bài đọc giới thiệu với chúng ta khoảng 40 câu trong 91 câu của 4 chương đầu. Ta nên đọc 51 câu khác và tự hỏi xem các biên tập viên sách bài đọc đã chọn ra những câu có ý nghĩa và hữu ích hay chưa. Ta sẽ nghe đọc đoạn giữa của bức thư vào năm B và đoạn cuối vào năm C. Đoạn kết này chủ yếu nói về sự phục sinh, vì thế, điều quan trọng là phải biết toàn bộ bức thư, bằng không chúng ta sẽ gặp phải nguy cơ cho rằng đời sống thiêng liêng do thập giá thống lĩnh hơn là toàn bộ sứ điệp Tin Mừng: nghĩa là cả thập giá và phục sinh (1 Cr 15,3-5). Chúng ta cũng nên tìm thời gian để đọc qua Tông Đồ Công Vụ 18,1-17 của Thánh Luca nói về hành trình truyền giáo của Thánh Phaolô tại Côrintô, được viết sau này vào khoảng những năm 80.

Cuối cùng, ta có thể tóm tắt về Thánh Phaolô qua những gì đã được biết trong 7 Chúa Nhật này. Ngài là thần học gia dạy chúng ta về Thiên Chúa, về Đức Kitô và về Chúa Thánh Thần. Ngài dạy chúng ta về giáo hội, tiêu biểu là giáo hội ở Côrintô. Ngài dạy chúng ta giáo thuyết Kitô giáo về mầu nhiệm và sự khôn ngoan, cả về sự phán xét nữa. Chúng ta gặp thấy một Phaolô mục tử: ngài khích lệ người Côrintô về đường lối sống cá nhân và cộng đoàn của họ.  Chúng ta gặp thấy một Phaolô văn sĩ: chúng ta thán phục tài nghệ khi ngài sử dụng các mối tương phản để viết ra sứ điệp, từ vựng dồi dào và hình ảnh sống động cũng như sự điêu luyện trong lối trích Kinh Thánh. Một khi 7 tuần với các trích đoạn thư 1 Côrintô này chấm dứt, chúng ta bắt đầu Mùa Chay và Phục Sinh. Đến các Chúa Nhật Thường Niên, chúng ta sẽ lại nghe Phaolô trong các đoạn trích thư Roma, một tuyệt phẩm của ngài. Cả một sự thích thú vẫn còn chứa đựng trong đó chờ được khám phá!
 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn tin: Gpquinhon.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check