VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
CÂU CHUYỆN DÀI MUÔN THUỞ
(Chia sẻ của Lm. Giuse Trương Đình Hiền trong buổi tổng kết cuộc thi “Ra đi sinh hoa trái”)
MC: Thưa mọi người, hiện diện cùng chúng ta ngày hôm nay, còn có cha Tổng Đại diện, một tác giả tài hoa với bút danh Sơn Ca Linh. Ngài vừa là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu lịch sử Giáo hội với nhiều bài viết, nhiều tác phẩm ấn tượng.
Kính thưa cha, chúng con được biết, vào giữa năm 2024, cha có xuất bản tác phẩm “Giáo hội và văn học nghệ thuật”. Cha có thể giúp chúng con hiểu rõ hơn về giá trị của văn học nghệ thuật trong tinh thần của Giáo hội không ạ?
CHA GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN:
Về “Giá trị văn học – nghệ thuật” trong tinh thần của Giáo Hội”
Trước hết, cảm ơn bạn đã dành cho tôi 1 lời “đề nghị” đầy thú vị và cũng rất cần thiết. Thú vị vì câu chuyện “văn học nghệ thuật” luôn là chuyện hấp dẫn và ai ai cũng thích vì nó liên quan đến cái tình, đến nhân văn, đến chân thiện mỹ…; và cần thiết vì “câu chuyện này” được đặt “trong tinh thần của Giáo Hội”; mà liên quan đến Giáo Hội cũng có nghĩa là liên quan đến đức tin. Bởi vì nếu “văn học nghệ thuật” mà không ở trong Giáo Hội, không liên quan gì đến đức tin thì chắc chắn chúng ta không có mặt ở đây giờ này! Thật vậy, văn học nghệ thuật cần đức tin định hướng, soi sáng; đức tin cần văn học nghệ thuật để làm chứng cách sinh động, hiệu quả và thuyết phục.
Để đáp lại cho đề nghị “giúp hiểu rõ hơn về giá trị của văn học nghệ thuật trong tinh thần của Giáo Hội”, tôi xin bổ túc một chút xíu: Thực ra, “văn học nghệ thuật” không chỉ “trong tinh thần của Giáo Hội” mà trong chính định hướng, trong thực hành, trong lựa chọn, trong cảm nhận sâu xa… của Giáo Hội. Bởi vì, nói tới văn học nghệ thuật là nói tới những chiều kích nhân văn như vui mừng, hy vọng, ưu sầu, lo âu … Thế mà, cách đây hơn 60 năm, Giáo Hội, qua Công Đồng Vaticanô II nơi Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, đã khẳng định: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm nhận trong đáy lòng họ.” (GS số 1).
Cách riêng, đối với những người làm văn học nghệ thuật, thì sau khi bế mạc, Công Đồng đã ngỏ lời với họ bằng những lời rất trân trọng như sau: “Xin đừng đóng cửa tinh thần quí vị trước hơi thở của Thánh Thần Chúa! Thế giới chúng ta sống ngày nay đang cần đến cái đẹp để khỏi chìm đắm vào thất vọng. Cái đẹp, cũng như sự thật mang lại niềm vui cho tâm hồn con người, đó chính là những hoa trái quí giá không tàn úa vì thời gian nhưng nối kết các thế hệ lại và làm cho họ thông cảm nhau khi thán phục nhau. Công trình ấy là do bàn tay của quí vị...”[2].
Riêng Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, vào ngày 04.04.1999, đã gởi đến các người làm văn học nghệ thuật (nghệ sĩ nói chung) một bức thư thật dài, thật đầy đủ với 16 điểm nhấn hay chủ đề. Có thể nói được, đây là một tuyên ngôn, một giáo lý chính thức và đầy đủ của Giáo Hội Công giáo về “văn học nghệ thuật” hay văn hóa nói chung. Sau đây là vài điểm nhấn về ơn gọi và trách nhiệm của những người làm văn học nghệ thuật hay nghệ sĩ nói chung:
Văn học – nghệ thuật là “nén bạc về cái đẹp” được trao ban
“Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hóa đã ban cho người nghệ sĩ qua hình ảnh họ được Chúa trao cho “nén bạc nghệ thuật”. Chắc chắn, đây cũng là nén bạc phải làm cho sinh hoa kết quả, đúng theo ý nghĩa của dụ ngôn các nén bạc. Đến đây, chúng ta đụng phải một điểm căn bản. Những ai nhận thấy nơi mình có tia sáng thần linh ấy, tức là ơn gọi làm nghệ sĩ (làm thi sĩ, văn sĩ, nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà nhiếp ảnh, nhạc sĩ,…) cũng sẽ cảm thấy mình có bổn phận không được để hoang phí tài năng ấy mà phải phát triển, để đem ra phục vụ nhân loại”.
Chu toàn ơn gọi và sứ mệnh văn học nghệ thuật cần có một linh đạo
“Ơn gọi đặc biệt của mỗi nghệ sĩ sẽ quyết định lãnh vực nào phải chọn để phục vụ, những nhiệm vụ nào phải đảm nhận, công tác khó nhọc nào phải gánh vác và trách nhiệm nào phải thi hành. Những nghệ sĩ ý thức tất cả các điều này cũng đều rõ mình phải lao động, nhưng không để mình bị lôi vào cuộc săn tìm những vinh quang hão huyền, những sự nổi tiếng rẻ tiền, càng không để mình bị hướng dẫn bởi sự tính toán lợi lộc cá nhân nào. Bởi đó, có cả một nền đạo đức, thậm chí một “linh đạo” cho việc làm nghệ thuật, để đóng góp cho đời sống và sự tiến bộ của một dân tộc. Đây chính là điều mà Cyprian Norwid muốn ám chỉ khi nói rằng: “Vẻ đẹp thì làm ta phấn khởi lao động, còn lao động thì nâng ta lên cao”.
Thế giới hôm nay và mãi mãi luôn cần văn học nghệ thuật
“… là những người đã hiến dâng cả đời cho nghệ thuật, anh chị em có nghĩa vụ phải dùng hết khả năng sáng tạo phong phú của mình để công bố thế giới đã được cứu chuộc trong Đức Kitô: con người được cứu độ, thân xác con người được cứu độ, toàn thể thụ tạo đang “sốt ruột chờ đợi sự mặc khải của con cái Chúa” (Rm 8,19). Thụ tạo cũng đang chờ đợi sự mặc khải của con cái Chúa qua nghệ thuật và trong nghệ thuật. Đây chính là nhiệm vụ của anh chị em. Nhân loại thời nào, kể cả thời nay, đều mong muốn các tác phẩm nghệ thuật soi sáng cho đường đi và số phận của nhân loại”.
Nếu phải dùng một mệnh đề ngắn gọn, một cụm từ súc tích để kết luận cho những chia sẻ trên, tôi xin chọn lời của Công Đồng Vaticnô II ngõ với các văn nghệ sĩ: “Xin đừng đóng cửa tinh thần quí vị trước hơi thở của Thánh Thần Chúa”.
MC: Chúng con xin hết lòng cảm ơn cha về những chia sẻ rất sâu sắc vừa rồi. Qua lời cha, chúng con hiểu thêm rằng văn học nghệ thuật chính là một phương thế tuyệt vời để diễn tả đức tin và tinh thần của Giáo hội. Chắc hẳn, tất cả các tham dự viên hôm nay sẽ ý thức và nỗ lực để không ngừng mở cánh cửa tâm hồn mình cho hơi thở của Chúa Thánh Thần.
Kính thưa cha, giữa những lo toan của sứ vụ mục tử, lại là linh mục Tổng Đại diện, làm thế nào cha vẫn giữ được tâm hồn nghệ sĩ và dành thời gian cho những vần thơ, trang sách ạ? Và có khoảnh khắc nào mà cha cảm thấy “thần hứng” của Thiên Chúa tác động mạnh mẽ đến ngòi bút của mình không ạ?
CHA GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN:
Không gian và điều kiện cho việc làm văn học – nghệ thuật
Nếu tôi không lầm, thì câu hỏi trên muốn tôi chia sẻ (kinh nghiệm cá nhân) về cái không gian và điều kiện cần cho công tác văn học nghệ thuật?
Trước hết, tạ ơn Chúa. Cách đây gần 10 năm, chính xác là ngày 29.6.2016, tôi được Đức cha Matthêô chính thức bổ nhiệm làm Tổng Đại diện Giáo phận Qui Nhơn. Khi gợi ý cho tôi đảm nhận trách vụ này, Đức cha cũng có đề nghị coi xứ Chính Tòa. Tuy nhiên, khi suy nghĩ về trách nhiệm và vai trò của Tổng Đại diện, tôi cho rằng mình cần một không gian, một điều kiện thích hợp hơn. Và tôi đã chọn về Tòa Giám mục để ở gần Đức cha và không lãnh nhận một trách nhiệm mục vụ gắn với một cộng đoàn cố định (giáo xứ). Sau 10 năm nhìn lại về những gì mình đã thực hiện, trong đó có những công việc thuộc lãnh vực văn học nghệ thuật, tôi cảm nhận rằng, mình đã chọn đúng: đúng về không gian cũng như điều kiện cho trách vụ.
Vâng, để làm văn học, nghệ thuật, để sáng tác, viết lách… rất cần một không gian yên tĩnh, không bị quấy rầy và bận rộn… Dĩ nhiên, cái không gian mà tôi nói tới không chỉ là không gian vật lý mà đặc biệt đó là không gian tinh thần, không gian của cầu nguyện là yên lặng nội tâm. Sở dĩ, ngày nay, chung chung, rất ít các cha xứ đang làm mục vụ chịu khó sáng tác, viết lách…; rất thông cảm với các ngài, không gian mục vụ giáo xứ đòi hỏi các ngài luôn “bị ăn”, bị quấy rầy, bận bịu. Không gian mục vụ, trong một nghĩa nào đó, không là môi trường thuận lợi và dễ dàng cho văn học nghệ thuật!
Đó là không gian, còn điều kiện cần thiết cho công việc sáng tác, viết lách quả thật có nhiều, nhưng tôi cảm nhận điều này rất cần: đọc. Vâng, hàng năm, tôi dành phần lớn tiền lễ để mua sách. Quý vị biết đó, chỉ với một cuốn sách “NHỮNG VIÊN NGỌC QUÝ GIỮA TRO TÀN”, tôi đã phải tiếp cận 99 cuốn sách và tư liệu để trải qua 126 lượt đọc và 445 ghi chú (footnotes). Có một điều tôi cảm nhận rất rõ khi chấm các tác phẩm truyện ngắn dự thi (qua các giải)… đó là: có lẽ hầu hết các tác giả khá hạn chế về việc đọc nên không có những “đột phá” về xây dựng đề tài và nội dung cốt chuyện cũng như biểu hiện nét sinh động và đa chiều của tâm lý nhân vật. Sở dĩ tôi có được một sự dễ dàng khi viết lách đó là nhờ một quá trình đọc sách. Thời còn làm thầy, cả khi làm chú, đọc rất nhiều: tiểu thuyết kiếm hiệp (Truyện cổ trang Tàu: Tam quốc chí, Hán Sở tranh hùng, Đông châu Liệt quốc, Nhạc Phi Tần Cối…; nhất là Kim Dung), các tác phẩm văn học nổi tiêng của thế giới (truyện dịch): “Chiến tranh và hòa bình” của Leon Tolstoi, “Bác sĩ Zhivago” của Boris Pastenak, “Câu chuyên Dòng sông” và “Đôi bạn chân tình” của Herman Hess, “Ông già và biển cả” của Erness Hemingway, “Giờ thứ 25” và “Một kiếp giang hồ” của Georgehill, “Ông Đại sứ” và “Trong và ngoài tình yêu” của Morris West; “Quo Vadis” của Henryk Sienkiewicz, “Ivanhoe” của Walter Scott, “Bá tước Kích tôn sơn” và “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” của Alexander Dumas, “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” của Colleen McCullough, “Ruồi Trâu” của Ethen Lilian Voynich, “Quy luật của muôn đời” của Nodar Dumbatze… Riêng về truyện ngắn thì thích “Tình yêu cuộc sống” của Jack London, cô bé bán diêm của Andersen… Trong khi đó, các nhà văn nổi tiếng của Miền Nam thời tiền chiến như nhóm Tự lực văn đoàn Khái Hưng (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên), Nhất Linh (Đoạn tuyệt, Đôi bạn..), Thạch Lam (Gió đầu mùa) được học và được dạy… Sau này với Miền Nam trước 1975, thì gần như không sót tác giả nào: Mai Thảo, Duyên Anh, Nguyễn Đình Toàn, Lệ Hằng, Nguyễn Mạnh Côn, Túy Hồng, Võ Phiến, Bình Nguyên lộc… Hiện tại, vẫn đọc các tác phẩm của nhà văn nữ có giọng đặc sệt miền Nam - Nguyễn Ngọc Tư và phía Bắc có nhà văn Phạm Lưu Vũ viết truyện ngắn về xã hội đương thời hết chỗ chê!...
Đừng quên, vào ngày 17.7.2024, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã gởi cho cộng đồng dân Chúa một lá thư về Vai trò của văn chương trong việc đào tạo, trong đó nhấn mạnh đến việc đọc sách. Đây là một sự kiện khá hi hửu, vì hình như chưa có vị Giáo hoàng nào ban hành cả một tài liệu (bản tiếng Anh dài 12 trang A4, gồm 43 số) về chuyện đọc sách cả. Giả như có khuyến khích đọc sách thì thường là sách thần học và tu đức… chứ có bao giờ Giáo hoàng lại khuyến khích đọc tiểu thuyết và thi ca! Có khi còn cấm tiệt là đàng khác!
Dĩ nhiên, chuyện đọc, tra cứu, tiếp cận tài liệu… trong thời đại hôm nay quá ư thuận tiện. Mình cảm tạ ơn Chúa đã cho được sống và tiếp cận với các phương tiện hiện đại: computer, internet, điện thoại thông minh, chatgpt, công nghệ AI… Nó giúp cho mình rất nhiều…
Cuối cùng, đối với một linh mục làm văn hóa nghệ thuật, thì ngoài chuyện đam mê, thích làm việc cá nhân (travail personel), thì để tư tưởng phong phú và có chiều sâu tâm linh, chuyển tải trải nghiệm đức tin…, còn rất cần yếu tố như: cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa (Lectio divina… mà ngôn ngữ đương thời trong giai đoạn thực thi Hội Thánh Hiệp hành đó là “Đối thoại trong Thánh Thần”).
Tóm lại, chuyện làm văn hóa nghệ thuật nó đến với mình như một duyên nợ khá tình cờ gắn liền cuộc đời linh mục và những trách nhiệm mục vụ. Cho tới hôm nay, 76 tuổi đời và 37 năm tuổi linh mục, vẫn cảm thấy hạnh phúc và chưa cảm thấy bị “phế canh”. Nếu có lời khuyên nào đó dành cho các bạn linh mục, tu sĩ và giáo dân thế hệ trẻ, thì đó là 4 cái biết: Biết chu toàn trách nhiệm và ở một mình, biết đọc sách và truy cập mạng, biết cầu nguyện và suy tư, biết sẻ chia và lưu giữ…
MC: Một lần nữa, chúng con xin tri ân cha vì những hướng dẫn và chia sẻ đầy gần gũi. Những tâm tình này chắc chắn sẽ là hành trang quý giá cho các tham dự viên trong hành trình “ra đi sinh hoa trái” của mình.
Chính xác là ngày 7.12.1965, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã công bố văn kiện này tại giáo đô Rôma sau khi phê chuẩn và ấn ký cùng với tất cả các nghị phụ.
X. Sứ điệp của công đồng Vaticanô II gửi đến tất cả mọi người, bản dịch của Giáo hoàng Học viện Piô X, II. Sứ điệp nhân dịp bế mạc (8.12.1965), gửi giới văn nghệ sĩ, số 17,18,19, website https://www.simonhoadalat.com.
X. Website Giáo phận Bà Rịa: link: Đức giáo hoàng Phanxicô và chuyện đọc sách văn học | Giáo Phận Bà Rịa.