Cách làm phú

Thứ sáu - 20/11/2020 17:21
CÁCH LÀM PHÚ

Vân Hùng
Lời Thăm, số 178, 15 Mai 1930, tr. 281-285



Phú là một lối văn chương cao diệu, để phúng vịnh sự đời, để ngâm phong cảnh, để tả hoạch giang sơn, hoặc cũng để tả tình cảnh chân dung người nọ, vật kia, hoặc cũng để vịnh diễu sự đời, khen cái hay răn cái xấu.

Cách làm Phú từ, cũng phải có đối đáp; song không câu nệ luật cách bằng lối làm thơ hay là văn tế. Khi làm bài Phú, chỉ theo lối “biền ngẫu”; nghĩa là chỉ phải đặt câu đối nhau, và “niêm luật”, lựa theo tiếng bình tiếng trắc, bình vận, trắc vận, mà thôi. Trong bài Phú, cốt phải hạ vận cho đích đáng; khi đã hạ vận đầu rồi, phải cứ vận đó cho đến cùng. Có ba thứ vận: “độc vận, hạn vận, và phóng vận”.

a) Độc vận, hay “nhất vận”. Nghĩa là: cuối câu thuộc vế thứ nhất đã đặt vận hoặc bình hoặc trắc, thì cuối các câu thuộc vế sau cũng phải một vận đó cho đến cùng.

b) Hạn vận, cũng gọi là “tạp vận”; hoặc ba bốn vần, hay năm bảy vần. Nghĩa là trong một bài Phú có xua nhiều vận hòa với nhau; vận này đặt trong đôi ba vế, đoạn đến vế khác lại đặt qua vận khác; thay đổi mãi cho đến cùng.

c) Phóng vận, hay “vô vận”; nghĩa là muốn làm theo vần nào cũng được. Lối vận này: trong bài Phú cũng có đối đáp, song đến cuối mỗi vế, không buộc phải giữ vận nào hết.

Cách đặt câu trong bài Phú

Các câu trong bài Phú, phải đặt theo lối “bát tự, song quan, cách cú, gối hạc”.

Bát tự - Nghĩa là trong bài Phú, mỗi đoạn một vế, trước hết phải đặt một vài câu vắn tắt, mỗi câu độ bốn chữ đối lại vói nhau, hai câu thành tám chữ; gọi là bát tự. Hoặc muốn dùng vần “liên châu”, nghĩa là đặt vần câu trên liên tiếp với vần câu dưới. Hoặc là dùng bằng trắc hai câu đối lại với nhau; thì chỉ hạ hai vần ở chữ cuối cùng hai câu bát tự mà thôi. Ví dụ: câu bát tự này:

Gớm thay cờ bạc! Gớm thay cờ bạc!
Chả ớt mà cay, như chuối mà chát!

 Song quan – là hai câu song đối lại với nhau, mỗi một vế độ sáu bảy chữ, cũng có khi tám chín chữ đối lại với nhau; vì thế quen gọi là Song quan. Ví dụ như câu:

Suối liêm mấy hẻ dầm dìa!
Đường lợi đua nhau chen chúc!

Cách cú – Trước đặt câu ngắn, sau dần dần đặt thêm câu dài đối lại với nhau thì gọi là “cách cú”. Nghĩa là trong một câu về mỗi một vế, thì đặt đoạn trên độ bốn chữ, đoạn dưới độ sáu bảy chữ; hay là nếu đặt đoạn trên độ sáu bảy chữ thì đoạn dưới đặt dài độ tám chín chữ, hay là ngoài mười chữ cũng được. Chủ ý một điều là: hễ đoạn trên ngắn thì đoạn dưới dài hơn. Ví dụ câu “cách cú” này:

Có trung hậu, cũng là trung hậu bạc; nào đoái hoài phường khố rách áo ôm?
Chẳng nhơn ngãi gì hơn nhơn ngãi tiền; phải chìu chuộng kẻ vàng trăm bạc chục.

Cũng có khi đầu câu đặt dài độ bảy tám chữ, mà cuối câu thì đặt ngắn độ bốn chữ. Ví dụ như câu:

Chẳng biết ăn cây nào, rào cây ấy; thấy bở thì đào.
Chẳng biết mất của ta, ra của người; cứ thấy mềm là chọc.

Gối hạc – Cũng có khi đặt dài, mỗi một vế đến ba đoạn; ở đầu mỗi câu, thường có ba chữ chấm đậu lại. Cách ấy gọi là Gối hạc. Ví dụ như câu:

Khi đắc thế, thì đất nắn nên bụt; nghe hơi khá, xăm xăm chen gót tới; đen ngỡ đàn ruồi!
Lúc sa cơ, thì rồng cũng như giun; xem chìu hèn, xanh xảnh rẽ tay ra, nhạt (lạt) như nước ốc!

Đó là nói đại khái về lối đặt những câu “bát tự, song quan, cách cú, gối hạc” là thế. Nhưng mà cũng có khi đặt câu vắn hơn độ ba chữ; hay là đặt dài hơn nữa. Trong vế, cũng có khi dài, có nhiều đoạn hơn, độ ba bốn đoạn. Quanh đi quảnh lại cũng chẳng qua mấy lối đã kể trên mà thôi; cốt là xếp được cho nhiều câu phương ngôn tục ngữ, và tự ý luyện vần, cùng lời lẽ cho êm đẹp trong bài cho dễ nghe, cũng được rồi.

Bài Phú chia ra mấy phần khác nhau?

Khi làm bài phú cũng như làm bài văn tế, văn sách, và các bài văn khác, là phải chia bài ra làm từng phần một, và nối kết các phần ấy với nhau. Theo như kiểu cách nhiều người quen chia xưa nay: thì bài chia ra năm phần là: khai, thừa, thích thực, nghị luận, và tổng kết.

Khai: là câu đầu khi mới mở bài. Cũng có khi gọi là Vần lung, vì nói cho lung động ý đầu bài và cả thân bài lên trước.

Thừa, hay là biện nguyện, tức là câu thứ liên tiếp phải nói nguyên ủy cho rõ ý phần khai.

Thích thực, tức là phần thứ ba, phải biện tả cho hết ý nghĩ đầu bài.

Nghị luậnTổng kết cũng có khi gọi là phần phụ diễn, hay là thôi hiệu, nghĩa là phần giải rộng ý đầu bài ra; rồi tiếp theo ngay phần tổng kết; thế là hết bài.

Song theo như sách Văn chương thơ phú của cụ Hồ Ngọc Cẩn, thì bài chia ra làm ba phần: là Phần Phú, Phần Trọng và Phần Kết; ba phần ấy gồm lại cả năm phần. Như thế thì có khi cũng dễ hiểu hơn, và những người mới tập làm văn cũng dễ lần hơn vậy.

Nay thôi xin trích theo một bài “Giới đổ bác” phú, theo “Độc vận” ra đây, để độc giả coi chơi, và để làm gương cho bạn mới tập làm văn phú được bắt chước.

Giới đổ bác phú

Gớm thay cờ bạc! Gớm thay cờ bạc!
Chả ớt mà cay, như chuối mà chát!
Bỏ bả nhau bằng quân bài; đánh cạm nhau bằng đĩa bát,
Có không, không có, như truyện chiêm bao; khôn dại, khôn, theo nhau mấy nhát (lát).
No cơm nhân lúc rỗi nghề; rửng mỡ bày trò đổ bác;
Một trăm hai mươi quân chằn chặn; ba hàng ngang dọc đảo điên.
Bốn đồng mười sáu chữ rành rành; hai mặt âm dương xô xát.
Trước chơi sau thiệt; mon men dần nên chuyện ăn thua.
Vào nhỏ ra to; cay cú mãi ra lòng bạc ác,
Được lúc hòn son giắt khố, ù thông thập hồng bạch định; chờ độc lên chi nẩy đùng đùng.
Đương khi đầu rắn giắt lưng, nhớ rành cặp lệch ba bay; theo lối trúng khuôn rền chăn chát.
Trước mặt vơ đống tiền sù sụ; lửng diều mặc sức ba hoa.
Trong lưng găm túi bạc lè lè; béo mỡ tha hồ phân phát.
Của ngon vật lạ, đem đến như mưa; bạc vụn tiền rời, tung hê ngỡ rác.
Những chú cao lâu lê la giề đến; xúm quanh mời công đạo bi bô.
 Các cô hàng sáo vi véo rủ về; tán mảnh gạ nhân tình kia khác.
Chắc hẳn giỡ nhà về thổi: tưởng lăm lăm những bụng ăn người.
Biết đâu hết đụn đi xin; chơi mãi mãi có khi bỏ xác.
Đến lúc họa lai thần ám; bài xoay quanh bỏ chực, bỏ ù.
Phải khi vận bỉ quỷ trêu; bạc đánh đuối càng thua càng khát.
Xóa ván này bày ván khác; đen lại hoàn đen.
Đổi phần nọ bỏ phần kia; nát cũng vẫn nát.
Chửa đánh xuống, đã ghê những mất; ngực thì thùng như trống đổ hồi.
Mong gỡ ra, lại buộc thêm vào; mặt hăm hở như đồ phải tát.
Quá tay nên nỗi nợ nần; nóng mắt tìm đường gỡ gạc.
Vay cào, vay cấu, lãi mấy cũng ừ; đắt non, đắt già, của ai cũng choạc.
Búi tóc chặt, gật chầy, gật cối; tát cũng đành, dầu đem giam trói cũng đành.
Trơ mặt dày đeo mẹt đeo mo; rủa càng mát, dầu bắt lột đìa càng mát.
Hàng sáo gặp phải tay nanh độc; giở đầu bò; vỗ tuột cũng không xong.
Nặc nô giây phải lũ côn quang; sáu móng lợn, chạy bừa mà chẳng thoát.
Khi mới phải bán cửa, bán nhà; khi mới phải phải gán đồ, gán đạc.
Khi mới lủi về xó nhà, khi mới chúi nằm xó gác.
Lo đến nợ bồn chồn không ngủ; đặt xuống nằm thì lại giật mình.
Nghĩ đến tiền ngao ngán quên ăn; nuốt vào cổ hình như mắc ngạt.
Vợ con cũng mất tình thương; bè bạn cũng ra tình nhạt.
Mất danh mất diện; quá chơi mà quên kẻ lăng nhăng.
Hại thân bại đời; trót dại hóa ra người rầy rạc.
Thế mới biết, ngồi vào đám bạc; già cũng chẳng thương gì trẻ, thằng cũng chẳng nể gì ông.
Thế mới hay, lâm đến đồng tiền; con cũng chẳng nể gì cha, cháu cũng chẳng tha gì bác.
Cao hạ bằng đẳng, láo nháo lào nhào; cốt nhục tương tàn, xác xơ, xơ xác.
Đọc đến chữ “Tham tài nhi tử”; kẻ máu mê đã trót dại thì chừa.
Nhớ đến câu “Lâm cục giả mê”; người tai mắt phải giữ gìn cho rát.

Đó là một lối Phú từ cao diệu, ta có thể lấy nó làm gương mẫu, về cách làm văn phú. Những người ham mê đổ bác, làm cho tan cửa nát nhà, cũng nên lấy gương đó, mà tự răn lấy mình vậy.

(Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên tập, Xuôi ngược thời gian, Tủ sách Nước Mặn, 2019, tr. 260-262)


 
 

Tác giả: Vân Hùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check