Sắc màu của hy vọng

Thứ tư - 30/09/2026 05:36
tramy


Xin mời các bạn cùng đọc bài thơ

LẶNG
(Ngắm hoa Trà My thốt nên lời)

Vườn ai cửa mở sương vào chơi
Cỏ cây chồi lá nở nụ cười
Trà My trang nhã chào khách quý
Khiêm nhường đôn hậu ánh trăng phơi.

Khách đà bước nhẹ trăng đi theo
Trà My đỏ lối đêm trong veo
Bên cầu cá lội lăn tăn sóng
Rung rinh làn gió Trà My reo.

Cánh hoa khép nếp màu tinh khôi
Càng ngắm càng say ngất hoa ơi
Đưa tay nâng nhẹ Trà My trắng
Một dòng thanh khiết điểm tô đời.

Dừng chân lắng quyện Trà My hồng 
Dáng ngọc nghiêng nghiêng ấm cõi lòng
Dịu dàng e ấp lời chung thủy
Một đời thanh thoát giữa hư không.

My vàng hạnh phúc ánh bình minh
Non nước ngợi khen ấm ân tình
Niềm tin gian khó hoa vẫn nở
Màu gieo hy vọng sẽ hồi sinh.

Trà My đoan trang tránh lạc đường
Tâm hồn thầm lặng cõi vô thường
Khoe sắc tỏa hương giữa đông lạnh
Lặng lẽ giữ gìn nét trinh trong.

Cát Đen

1.Hoa trong thơ ca Việt

Hoa là Cái Đẹp của thiên nhiên. Hoa cũng trở thành Cái Đẹp của con người trong mọi hoàn cảnh. Hoa linh thiêng trên bàn thờ trong nhà Chúa hay trên bàn thờ gia đình Công giáo. Có cả một mùa hoa dâng Mẹ (Tháng Năm là Tháng Hoa). Hoa tặng nhau những dịp vui, buồn. Chú rể trao cho cô dâu một bó hoa tình yêu trước mặt cộng đoàn. Một lẵng hoa rực rỡ chúc mừng, một vòng hoa tím tiễn đưa lần cuối người thân yêu. Và đặc biệt, hoa trở thành nguồn thi liệu, nguồn cảm hứng và nguồn tư tưởng trong thơ ca, âm nhạc từ xưa đến nay.

Thiền sư Mãn Giác (1052-1096), trong bài Cáo tật thị chúng viết:

“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết/ 
Đêm qua, sân trước một nhành mai.”

Nhành mai của Mãn Giác cũng là chứng ngộ của Tôn giả Ca diếp (“Niêm hoa vi tiếu”) khi ngài nhìn thấy Đức Phật đưa cành hoa sen lên tại hội Linh Sơn.

Nguyễn Trãi (1380-1442) nhìn Hoa Đào mà thấy bao niềm vui:

Một đóa đào hoa khéo tốt tươi
Cành xuân mơn mởn thấy xuân cười 
                           (Đào hoa thi. Bài 1)

Hoa soan rụng đầy trong Mưa xuân của Nguyễn Bính

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa Xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ 
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay…

Hàn Mạc Tử nhìn thấy Mùa xuân chín trên dàn hoa Thiên lý

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan 
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng 
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Hoàng Cầm nhận ra cái tình quê sâu đậm trong hoa gạo đỏ:

    “Hoa gạo đầu đình vẫy mãi người xa quê” 
                                 (Hoa gạo đầu đình)

Trịnh Công Sơn ghi được mùi thơm hoa sữa cùa Mùa thu Hà Nội

Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội,
mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió,
                        (Nhớ mùa thu Hà Nội)

Và thật ngạc nhiên giữa rừng Việt Bắc bạt ngàn xanh là hoa chuối đỏ như lửa cháy trong thơ Tố Hữu

            “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”
                        (Việt Bắc-Tố Hữu)

Thơ ca Việt Nam thật phong phú sắc màu và tư tưởng về các loài hoa. Có thể kể thêm nhiều loài hoa nữa như hoa Sen, hoa Cúc, hoa Phượng, hoa Lục bình, hoa Dã quỳ, và… có cả “hoa đồng trinh Đức Mẹ” trong thơ Lê Đình Bảng. Mỗi loài hoa là một hương sắc, một ý nghĩa biểu tượng và là một khoảng trời riêng của tâm hồn Việt.

Dưới dàn bông giấy, hoa rơi đầy
Hình như, càng nắng, càng tươi thắm
Lặng lẽ, không hương, sao ngất ngây
Có phải hoa đồng trinh Đức Mẹ
Đương vào mùa bụi phấn bay bay
            (Trong khu vườn rào kín-tập thơ: Và Em. Lễ khấn dòng)

Lướt qua một chút như vậy để bạn đọc thấy rằng viết về hoa là không dễ. Làm sao để vượt qua được người đi trước cả về tư tưởng và thi pháp, và đóng góp thêm vào sự phong phú của thơ Việt về hoa? Làm sao để khám ra những điều mới mẻ của đề tài, tìm được cách thể hiện riêng, có một giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật độc đáo. Điều ấy đòi hỏi tài năng thiên phú.
           
2. Hoa Trà My lặng lẽ

Nhà thơ-Lm Cát Đen viết về hoa Trà My và đặt tên bài thơ là “Lặng”, điều này có ý nghĩa gì?

Có rất ít thơ viết về hoa Trà My? Hoa Trà My không “ồn ào” như các loài hoa khác khoe sắc khoe hương trong những lễ hội đông vui. Không gian của bài thơ là một đêm trăng trong vườn hoa. Một mình khách với hoa và trăng. Từ trời mờ sương đến lúc bình minh, khách và hoa trò chuyện như tri kỷ tâm giao. Ngoại cảnh thật yên tĩnh, lặng lẽ. Đó là điều kiện để khách có thể nghe được tiếng nói của hoa.

Khách đà bước nhẹ trăng đi theo
Trà My đỏ lối đêm trong veo. 
         Bài thơ có ba nhân vật: khách, Trăng và hoa Trà My.

Thực ra “đêm trăng trong veo” chỉ là không gian được sáng tạo để vẽ nên bối cảnh lãng mạn cho thơ. Bởi vì, chỉ ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời, sắc hoa mới rực rỡ. Ban đêm, dù có trăng rất sáng, sắc hương của hoa cũng nhạt nhòa.
Và không có Khách nào ngắm hoa trong vườn ban đêm cả. Ban đêm, người ta ngắm trăng để nhớ quê (Sơ nguyệt-Nguyễn Du) hay uống rượu dưới trăng (bài Nguyệt hạ độc chước-Lý Bạch) để thấm thía nỗi cô độc. Trong bài thơ “Lặng”, Khách chỉ có một mình, trong đêm trăng, ngắm hoa từ chiều muộn: “Vườn ai cửa mở sương vào chơi” đến sáng: “My vàng hạnh phúc ánh bình minh”. Điều ấy không có trong đời thực. Chẳng có khách nào thức cả đêm chỉ để ngắm vài bụi hoa. Bút pháp Lãng Mạn cho phép hư cấu một cảnh thiên nhiên đẹp: Trăng (Thiên nhiên)-Hoa Trà My và Khách. Vì thế, không nên đọc bài thơ theo cảm quan hiện thực, bởi không thể nào giải thích được hình ảnh này:

Trà My đỏ lối đêm trong veo
Bên cầu cá lội lăn tăn sóng

Đêm không đủ ánh sáng để nhìn thấy “Trà My đỏ ối” và nhìn thấy cá lội bên cầu, càng không thể nhìn thấy sóng lăn tăn trên mặt hồ. Và, không biết có hồ cá hay không nữa! Vì tác giả không miêu tả trực tiếp cảnh hồ, hay lạch nước hoặc sông và cây cầu bắc qua để ngoạn cảnh. Vâng, đó là hình ảnh thơ mộng, một cảnh tưởng tượng của bút pháp Lãng mạn. Người đọc không bận tâm làm gì, chỉ cần ướp hồn mình trong cảm quan đêm trăng, bên cầu có cá lội và mặt nước lăn tăn lấp lánh ánh trăng vui. Người đọc cũng có thể tưởng tượng thêm ra những gì mà câu thơ đã gợi, để những xúc động thẩm mỹ bay lên. Chẳng hạn, tưởng tượng ra người thơ đi bên một thiếu nữ đẹp bên cầu nữa. Dĩ nhiên trong bài thơ này vắng bóng giai nhân như thường thấy trong thi ca Việt.

Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa (câu 146)
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha (câu 170)
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Nhân vật chính, cũng là nhân vật tự sự (người kể chuyện) của bài thơ là “Khách”. “Trà My trang nhã chào khách quý”,  “Khách đà bước nhẹ trăng đi theo”. Nhưng “Khách” cũng là đại từ nhân xưng của chính tác giả (nhân vật Tôi/ Ta ẩn mặt). Nhờ sự ẩn mặt này, tác giả đã tách mình ra khỏi Cái Tôi chủ quan, trở thành ngôi trần thuật đứng bên ngoài không gian thơ, quan sát chính mình trong vai Khách.

Câu chuyện là những quan sát ghi nhận khách quan của Khách. Nhờ thế, những cảm xúc và nghĩ suy về Trà My sẽ là những giá trị chung của mọi người, không còn là  những nghĩ ngợi chủ quan của riêng tác giả. Bởi vì, nếu là góc nhìn của Cái Tôi, thì có người thích hoa này, có người thích hoa khác, và cũng trong trải nghiệm riêng, mỗi người sẽ đặt cho mỗi loài hoa một ý nghĩa, sẽ có một sự khác biệt rất xa, đôi khi gây ra những tranh cãi. Thưởng thức nghệ thuật luôn là vậy (Thí dụ, có người thích Giao hưởng, có người thích Vọng cổ, lại có người thích hát Chèo. Có người thích hoa Hồng, có người thích hoa Phù Dung…).

Trong văn chương cổ, sự hóa thân vào nhân vật “Khách” như vậy giúp tác giả phóng túng hơn trong việc phô diễn những suy nghĩ cảm xúc cá nhân mà không sợ bị đánh giá là tự đề cao Cái Tôi:

“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi,
Đâu mà chẳng biết…”
            (Bạch Đằng Giang phú-Trương Hán Siêu (?-1354)
(Ghi chú: “Khách” chính là tác giả)

3. Những ý nghĩa của hoa Trà My

Khách được đón tiếp thật trân trọng và thân tình.
Vườn ai cửa mở sương vào chơi
Cỏ cây chồi lá nở nụ cười
Trà My trang nhã chào khách quý
Khiêm nhường đôn hậu ánh trăng phơi.

Thiên nhiên được nhân hóa và là tượng trưng cho con người. Thay vì nói chủ vườn Trà My cùng với mọi người tươi cười, trang nhã đón khách, tác giả lại nhìn thấy “Cỏ cây chồi lá nở nụ cười”. Riêng Trà My được tô đậm nét thanh lịch: “trang nhã, khiêm nhường, đôn hậu” chào khách dưới ánh trăng. Thiên nhiên hân hoan và ấm áp tình người. Phẩm chất nhân văn của thơ tạo nên Cái Đẹp nghệ thuật.

Chuyện ngắm hoa được kể lại theo bước chân an nhiên của khách. Tác giả tập chú vào thái độ, nghĩ suy và đối thoại của khách với Trà My. Nhờ đó, giúp người đọc nhận ra những khám phá riêng của Khách với từng loại Trà My có  màu sắc khác nhau. Những ý nghĩa ấy là gì?

Thử liên hệ với ngôn ngữ của những loài hoa khác. Hoa Sen biểu tượng cho sự thuần khiết, tinh tế và cao quý của tâm hồn Việt. Hoa Phượng: là hoa của tuổi học trò, với những kỷ niệm mùa hè. Hoa Đào - Hoa Mai là mùa xuân dân tộc. Hoa Sữa là đặc trưng mùa thu Hà Nội. Hoa Ban, Hoa Gạo là vẻ đẹp núi rừng hùng vĩ, Hoa Dã Quỳ, Hoa Tam Giác Mạch là đặc trưng du lịch, vùng cao. Hoa Dại nơi đồng nội là vẻ đẹp hoang sơ, chân chất của người quê. Hoa Bằng lăng tím là hoa tình yêu [[1]].

Và, hãy nghe Khách khám phá ý nghĩa hoa Trà My. Tất nhiên Khách nói chuyện với hoa và độc thoại nội tâm với chính mình. Nhưng nhờ thế, người đọc hiểu được vẻ đẹp cốt lõi tâm hồn Việt và những giá trị nhân bản được thăng hoa. Khách vui với Trà My đỏ trên lối đi: “Rung rinh làn gió Trà My reo”. Đến bên Trà My trắng, Khách thấy những cánh hoa khép nép, tinh khôi. Vẻ đẹp tinh khôi ấy làm cho Khách ngây ngất khi đưa tay nâng nhẹ cánh hoa. Xin lưu ý rằng, niềm hạnh phúc mà Trà My trắng đem lại cho người thơ là: “Một dòng thanh khiết điểm tô đời”, khộng phải chỉ là rung cảm của Cái Tôi.

Trà My hồng có sức quyến rũ riêng: “Dừng chân lắng quyện Trà My hồng”. Khách không chỉ “dừng chân” bên khóm hoa mà còn “lắng nghe”, “quyến luyến (“quyện”), rất thân tình và thương yêu. Bởi vì, Trà My hồng không chỉ đẹp (hình sắc) mà còn kết đọng rất tinh tuyền những ý nghĩa của cuộc sống: “Dịu dàng e ấp lời chung thủy/ Một đời thanh thoát giữa hư không”. Hoa không chỉ là Cái Đẹp tự nhiên mà là cốt cách, phẩm chất, đức hạnh Việt. Người Việt yêu quý sự “dịu dàng” kín đáo. Rất coi trọng đạo lý “thủy chung”, bởi “thủy chung” là phẩm hạnh hàng đầu trong tình yêu, phẩm hạnh được chính Thiên Chúa đặt để [[2]]. Người Việt sống thanh cao theo tinh thần của Tin Mừng (“thanh thoát giữa hư không”[[3]]).Vì biết rằng mọi sự là “hư không” nên người Việt không “Tham, sân, si”(nói theo ngôn ngữ Thiền), mà sống “thanh thoát”, sống vượt lên trên (“thoát”) đời trần tục, chọn sự trong sáng (“thanh”) giữa cuộc trầm luân. Như vậy Khách (tác giả-nhà thơ) đã nhìn thấy ý nghĩa Thần học, và nhận ra chân lý của Tin Mừng trong từng cánh hoa Trà My hồng. Thật thú vị! Thật khác biệt so với cái nhìn của khách tham quan đời thường.

Khi bình minh lên, trời đất ấm lại, hoa Trà My vàng mang đến cho Khách hạnh phúc tràn ngập đất trời.

My vàng hạnh phúc ánh bình minh
Non nước ngợi khen ấm ân tình
Niềm tin gian khó hoa vẫn nở
Màu gieo hy vọng sẽ hồi sinh.

Trước hết đó là cảm giác “ấm áp” Khách nhận được sau khi đã trải qua một đêm trăng “giữa đông lạnh”. Nhưng sự “ấm áp” tâm hồn mới thực sự giúp nhà thơ hướng về phía trước.

Đó là cảm quan rạng rỡ trước một đất nước tươi đẹp (“Non nước ngợi khen-hạnh phúc ánh bình minh”), cảm quan giàu chất nhân văn trước tình người đầm ấm (“ấm ân tình”-Khách được đón tiếp ân cần, rộng mở và nhận được nhiều niềm vui), và khẳng định một niềm tin vào bản lĩnh Việt là, giữa gian khó hoa vẫn nở, làm hồi sinh bao hy vọng. Người Việt, đã trải qua nhiều ngàn năm lịch sử, đối mặt với bao gian khó, nhưng tình người vẫn nở hoa (“Thương người như thể thương thân”). Dân tộc này đã kết tinh một niềm tin sâu sắc vào Trời (“Gẫm hay muôn sự tại Trời”-Truyện Kiều-Nguyễn Du. Gia đình bên lương có bàn thờ Thiên trước sân), và luôn hy vọng những điều tốt đẹp (“Người ta là hoa đất”).

Rõ ràng là, người thơ ngắm hoa Trà My vàng không chỉ là nhìn hoa đẹp (Cái Đẹp của Tự Nhiên), cũng không nghĩ suy theo cách nghĩ đời thường về hoa vàng: Ở Mexico, cúc vạn thọ loài hoa chủ yếu có màu vàng tượng trưng cho cái chết. Ở Pháp, hoa vàng thể hiện sự ghen tị. Ở Anh thời Victoria, hoa màu vàng được dùng để tượng trưng cho tình yêu đơn phương.Văn hóa phương Đông xem hoa vàng là biểu tượng của sự giác ngộ tâm linh.[[4]]. Người Việt ai cũng biết câu thơ này của Nguyễn Du viết về nàng Thúy Kiều: “Tiếc thay một đóa trà my/ Con ong đã tỏ đường đi lối về” (Truyện Kiều, câu: 1275-1276). Nhà thơ Cát Đen đã đem vào ý nghĩa của hoa Trà My màu vàng những giá trị và niềm tin Việt, rất sâu sắc và mới lạ.

4. Lời kết của hoa Trà My

Đây là bài thơ Đào hoa thi 1 của Nguyễn Trãi [[5]]
Một đoá đào hoa khá tốt tươi,
Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười.
Đông phong ắt có tình hay nữa,
Kín tịn mùi hương dễ động người.

Thử so sánh với đoạn kết bài thơ Lặng của Cát Đen:

Trà My đoan trang tránh lạc đường
Tâm hồn thầm lặng cõi vô thường
Khoe sắc tỏa hương giữa đông lạnh
Lặng lẽ giữ gìn nét trinh trong.

Cả hai nhà thơ cùng cảm nhận vẻ đẹp và hương hoa say lòng người: “Kín tịn mùi hương dễ động người” (Nguyễn Trãi); “Khoe sắc tỏa hương giữa đông lạnh”(Cát Đen). Cả hai nhà thơ cùng tìm thấy ý nghĩa nhân văn của hoa trong cuộc sống, trong quan hệ giữa con người và cả hai cùng bày tỏ niềm tin yêu vào Cái Đẹp giữa thiên nhiên và nhân sinh: “có tình hay nữa… dễ động người”(Nguyễn Trãi); “thầm lặng cõi vô thường… Lặng lẽ giữ gìn nét trinh trong” (Cát Đen).

Đọc kỹ hơn, người đọc sẽ nhận thấy nhà thơ Cát Đen muốn gửi gắm một triết lý nhân sinh: giữa cõi vô thường, Trà My đoan trang là dấu chỉ cho ta tránh lạc đường. Trà My lặng lẽ là phong cách sống của bản lĩnh Việt. Trà My còn là sự giữ gìn những nét trinh trong của văn hóa Việt trước những xâm lăng của văn “ văn minh sự chết” từ ngoài đang tràn vào. 
Đó là những vấn đề lớn mà người Việt đang phải đối mặt.

Xin cám ơn nhà thơ Cát Đen đã chia sẻ một bài thơ giàu ý nghĩa thẩm mỹ và đem đến cho người đọc những nhận thức nhân bản rất Kitô giáo và rất sâu sắc Việt tính.

Tháng 01/ 2026



 

 

[1] Tổng hợp trên net.
[2] "Sự gì Thiên Chúa kết hợp, con người không được phân ly" (Mc 10,9).
[3] “Phúc cho ai có thinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ” (Mt 5, 3)
   -"Hư không của sự hư không, thảy đều hư không" (Ecclesiastes 1:2)
[4] Ý nghĩa của hoa có màu vàng
https://phulieuhoa.vn/bai-viet-y-nghia-cua-hoa-co-mau-vang-137?srsltid=AfmBOopRavGuojCdSS6Ihgggu252yBUfeRJA7VanhAkJrzOi_5dsTcL_
[5] Đào hoa thi bài 1-Nguyễn Trãi
https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-Tr%C3%A3i/%C4%90%C3%A0o-hoa-thi-b%C3%A0i-1/poem-y4iJ6v3mYp-Z_KEorcHd_g
 

Tác giả: Bùi Công Thuấn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check