Hiến lễ đầu mùa : Đêm sương lắng nụ hớp nguồn thánh khí

Thứ bảy - 31/08/2019 21:23
4. Chiều sâu đời sống của Chân phước Anrê Phú Yên

4.Đêm Sương ngát nụ hớp Nguồn Thánh Khí
Dưỡng hồn thơ lòng sốt mến nguyện cầu
Tim an lắng trong Lời ru Tuyệt Mỹ
Nguyện tín thành đáp tình nghĩa ân sâu.

Càng nhiệt thành với công việc rao giảng Tin Mừng cũng như càng tận tâm giúp đỡ người khác, Thầy Anrê càng dành thời gian để chăm lo đời sống linh hồn của mình. Mỗi đêm về, Thầy luôn biết lắng mình trong tình yêu Thiên Chúa, dâng tất cả mọi sự mà Thiên Chúa đã hướng dẫn Thầy thực hiện trong ngày một cách trọn hảo “Đêm Sương Ngát”.

Trong câu thơ này, thi sĩ đã thiêng cách hóa từ “Sương Ngát” để nói về Chúa Thánh Thần. “Đêm Sương Ngát” là những đêm mà linh hồn Thầy lắng đọng để đón nhận hoa quả của Thần Khí, đó là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (x Gl 5, 22-23a). Và Thầy Anrê đã kín múc các ân sủng từ Nguồn Mạch Trường Sinh để sống các nhân đức Kitô giáo ở mức có thể được, như Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương đã viết về Thầy:

Nguồn mạch kinh nguyện của Thầy Anrê trước hết là Chúa Thánh Thần, là “Nước Trường Sinh”, “một mạch nước chảy vọt, đem lại sự sống đời đời” (x Ga 4,14), mà Thầy đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội và được bổ sung bởi Bí tích Thêm sức. Thầy đã để Chúa Thánh Thần thấm nhập toàn thể con người mình, để Người trở thành “Thầy” nội tâm dạy biết cầu nguyện. Thầy Anrê đã trau dồi, tô điểm tâm hồn mình mỗi ngày một xinh đẹp hơn, xứng đáng là đền thờ Chúa Thánh Thần, bằng việc thực hành các nhân đức đối thần: Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến và các nhân đức luân lý nhất là nhẫn nại, khiêm nhường, quảng đại. Trước Tòa án của Giáo Hội tại Macao điều tra về việc tử đạo của Thầy, cha Đắc Lộ và các người chứng khác đều quả quyết rằng Thầy đã sống các nhân đức ấy một cách đơn sơ, tự nhiên mà ai cũng đều nhận thấy”.

Thêm vào các ân sủng của Chúa Thánh Thần, Thầy Anrê còn khao khát được đón nhận Bí tích Giải tội và Bí tích Thánh Thể. Thầy xác tín rằng các Bí tích này là nguồn sức sống mà Thiên Chúa ban cho Thầy  “nụ hớp Nguồn Thánh Khí”. Ở đây chúng ta có thể hiểu “Nụ” hàm ý nói đến linh hồn hay trái tim yêu mến Chúa của Thầy Anrê; “Hớp” có nghĩa là khao khát đón nhận một cách cung kính và trân trọng; “Nguồn Thánh Khí” là nói đến các Bí tích.

Đọc lại trình thuật thứ nhất của Cha Đắc Lộ viết về cuộc tử đạo của Thầy Anrê Phú Yên, chúng ta sẽ cảm nhận được chiều cao đời sống của Thầy Anrê khi Thầy luôn biết kiết hiệp mật thiết với Chúa qua các Bí tích dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

“Có một đám rất đông người tụ lại cả Kitô hữu và lương dân. Đặc biệt người lương dân vô cùng ngạc nhiên thấy một sự việc lạ lùng chưa hề được nghe nói trong xứ sở họ, rằng một người muốn chết vì Đạo và vì chân lý; vì đây là sản phẩm đầu mùa của đất này, nên nó càng quý giá hơn, đến nỗi người lương dân cũng bật khóc trước cảnh tượng này. Trước giây phút hồng phúc một chút, Thầy xin tôi giải tội cho Thầy, vì Thầy muốn giải hoà, Thầy làm việc này thật ngắn gọn; vả chăng những lần xưng tội của Thầy luôn như vậy, Thầy chỉ mất khoảng thời gian không dài hơn thời gian đọc một kinh Kính Mừng để xưng tội, bởi Thầy có một tâm hồn trong sáng đến mức tôi không thấy tội gì để xá giải. Và ngày hôm trước, vào ngày diễm phúc bị bắt ấy, Thầy đã xưng tội rồi và đã rước Chúa, bởi vì đó là ngày lễ của Thánh Tông Đồ Giacôbê, và thầy có thói quen xưng tội tám ngày một lần.

Và trong bản tường trình thứ hai dài hơn, cha Đắc Lộ cũng đã nhắc lại:

Thầy Anrê đạo đức, nhiệt thành với việc phương tự, chuyên cần chịu Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, và muốn làm cho người đồng hương trở lại đạo. Thầy luôn luôn tham dự Thánh lễ và giúp lễ cách sốt sắng với lòng sùng kính”.

Trong vòng hai năm Thầy đi xưng tội với tôi, mỗi tuần một lần, Thầy không xưng lâu hơn thời gian đọc hết một kinh Kính Mừng; và tôi có  thể quả quyết rằng tôi chưa thấy một tập sinh, một tu sĩ nào có tư tưởng khiết tịnh và có một tâm hồn trong trắng như vậy”. (Positto Super Martyrio q.I, tr.127)

Đọc những trình thuật của Cha Đắc Lộ viết về Thầy Anrê Phú Yên, chúng ta thấy đời sống kết hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa của Thầy Anrê thật hợp nghĩa với câu mà nhà thơ Song Lam diễn tả: Cầu nguyện với Chúa Thánh Thần “Đêm Sương Ngát”, xin Chúa Cha tha tội qua Bí tích Hòa Giải và kết hiệp với Chúa Giêsu – Ngôi Hai Thiên Chúa – qua Bí tích Thánh Thể “Nguồn Thánh Khí”.

“Đêm Sương ngát nụ hớp Nguồn Thánh Khí”

Đối với Thầy Anrê, Bí tích Giải tội giúp Thầy biết sống khiêm tốn trước mặt Chúa, bởi vì Thầy biết mình luôn yếu đuối, lầm lỗi và bất xứng với tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ sự xóa tội của Bí tích Hòa giải mà Thầy mới có đủ thanh sạch để xứng đáng rước Mình Máu Thánh Chúa. Đây là ân sủng cực trọng nuôi dưỡng linh hồn của Thầy “Dưỡng hồn thơ”. Chính nhờ sức sống của Thánh Thể mà Thầy thêm lòng yêu mến và mong ước được luôn kết hiệp với Chúa trong mọi nơi mọi lúc “lòng sốt mến nguyện cầu”.

Lòng sốt mến nguyện cầu” của Thầy Anrê còn hàm nghĩa nói đến lòng yêu mến Đức Mẹ qua việc chuyên chăm lần hạt Mân Côi cùng với việc suy ngắm các mầu nhiệm cứu chuộc mà cha Đắc Lộ đã dạy cho Thầy. Chính vì có lòng yêu mến và trông cậy vào sự bầu cử của Đức Mẹ cách đặc biệt, cho nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Thầy vẫn luôn gọi tên Chúa Giêsu và tên Mẹ Maria cho đến khi đầu lìa khỏi xác. Việc Thầy phó thác linh hồn mình trong tay Thiên Chúa khi kêu tên cực trọng Chúa Giêsu và Mẹ Maria cũng tương tự như việc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, khi sắp trao linh hồn cho Thần Khí, Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. (x Lc 23, 46)

Cùng đọc lại sử liệu nói về cuộc tử đạo của Thầy Anrê Phú Yên, chúng ta sẽ cảm nhận được lòng yêu mến và trông cậy vào Mẹ Maria của Thầy.

“Anh bị giải đi như thế đến nơi đã nói, ở đó một phụ nữ đã trải vài chiếc chiếu rơm, theo như tục lệ của vương quốc này là phải trải chiếu tại chỗ mà người ta sẽ hành quyết một tội nhân nào đó. Nhưng thầy Anrê không muốn chết ở đó, nhưng muốn chết trên đất, hai tay chắp lại và giơ lên cao, quì gối, và ba mươi quân lính vây quanh thầy thành một vòng tròn để thầy ở giữa, mỗi một tên lính cầm trên tay một mã tấu; và vào đúng lúc viên quan đó ra lệnh cho một người lính hành quyết, anh ta thực hiện cuộc hành quyết bằng một ngọn giáo, một loại vũ khí có đầu bằng sắc dài ba gang và rộng ba ngón tay; tên lính dùng cái cán giáo đánh một cú thật mạnh vào lưng, và quay đầu sắt nhọn lại nó đâm thầy Anrê vào sườn trái một vết thương rất sâu, xuyên thấu từ bên này sang bên kia, rồi rút giáo ra, và cũng nhằm vào cùng một chỗ hắn đâm một nhát nữa làm thầy Anrê ngã ra, người anh hùng tử đạo ngã sang bên phải mà mặt vẫn quay về trời, luôn miệng kêu tên GIÊSU MARIA nhiều lần; và vì thầy nằm ở tư thế này, một trong số những tên lính đó, dùng mã tấu cầm sẵn trên tay, cắt cổ thầy Anrê trong khi đó người anh hùng tử đạo vẫn còn sống,và tiếp tục kêu tên cực thánh Giêsu Maria; và chính nhân chứng đã thấy sau khi người ta đã cắt cổ thầy, người ta còn nghe thấy trong hơi thở thoát ra hoà với máu là tiếng kêu Danh Thánh Giêsu Maria.”
(Nhân Chứng Thứ Hai: Francisco de Azevedo Teizeira)

Lòng sùng kính Đức Mẹ của Thầy Anrê còn thể hiện rõ nét khi Thầy Anrê gục chết, quân lính chém đầu Thầy đã bỏ đi, các giáo dân và cả những người Bồ Đào Nha chứng kiến cái chết vì đức tin kiên cường đó đã vội tranh nhau lấy các thánh tích: họ lấy khăn thấm máu của Thầy trên gò đất, chia nhau chiếc áo dài trắng đẫm máu từ vết thương đâm ở cạnh sườn và cỗ tràng hạt của Thầy rồi chia nhau các hột của xâu chuỗi quí báu này. Rõ ràng với lòng yêu mến Đức Mẹ sâu thẳm, nên Thầy luôn đem theo bên mình tràng chuỗi Mân Côi để có thể thầm thỉ với Đức Mẹ bất cứ khi nào có thể. Chính vì thế mà trên đường ra nơi hành quyết, con đường thánh giá, con đường tử đạo, Thầy Anrê rất vững tin vì luôn có Mẹ bên mình để trông cậy và tựa nương.

Với sự kiện trên, chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng: trước khi Thánh Louis-Marie de Montfort  (1673 - 1716) –  sinh sau Thầy AnRê Phú Yên gần 50 năm – một Linh mục dòng Tên, người Pháp, đặc biệt có lòng sùng kính Đức Mẹ Maria với khẩu hiệu “Per Mariam ad Jesum” nghĩa là “Nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Kitô” thì  Thầy Anrê đã có lòng yêu mến Đức Mẹ và sống tâm tình đó rồi.

“Dưỡng hồn thơ lòng sốt mến nguyện cầu”

Viết đến đây, tôi lấy làm hổ thẹn khi biết có những người Công Giáo chẳng bị ai khiển trách hay cấm đoán, chẳng bị ai hăm dọa hay bắt bớ, thế mà họ lại không dám khai lý lịch mình là Công giáo, không dám đi dự lễ ngày Chúa Nhật, không dám làm dấu thánh giá để tuyên xưng đức tin, và càng không dám lần chuỗi Mân Côi.

Thế nhưng đã có những con người vất vả tháng ngày đã dám làm điều đó giữa phố phường đông người qua lại, với một tâm hồn đơn sơ mà vô cùng sốt sắng  như bài chia sẻ của một Linh mục:

Mắt anh… không buồn mở

                            
1
Cuối hè năm nay, sau lễ Đức Mẹ Lên Trời, ảnh của một người đàn ông làm nghề chạy xe ôm đang đợi khách bên đường, tay cầm tràng hạt, mắt lim dim… xuất hiện trên một địa chỉ facebook… và rồi lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội với những chia sẻ đầy cảm xúc. Tấm hình này cũng đã gợi hứng cho tác giả Dấu Chân viết nên bài thơ “Sao anh siêng lần chuỗi?” được dệt thành một ca khúc tango dễ thương với ca từ thật giản dị nhưng sâu lắng.

“Hỡi này anh kia ơi, sao anh siêng lần chuỗi?
Dẫu trời nắng hay mưa, dù là sáng hay trưa…
Giữa phố phường rong ruổi
Tràng chuỗi vẫn trên tay
Theo bước anh từng ngày
Chẳng ngại gì trời gió mưa
Những lời kinh Mân Côi.
Tuy đơn sơ là thế
Vẫn còn nở trên môi
Mặc ngày tháng tới lui
Với tấm lòng chân thành
Mẹ sẽ xót thương anh
Xin Chúa ban phước lành
và chở che suốt cuộc đời”.

Nhìn khuôn mặt thánh thiện của anh, không ai trong chúng ta không xúc động, vì lẽ, bức ảnh được chụp một cách tự nhiên để có thể có được cái hồn nhiên thánh thiện đến như thế; nhìn chuỗi tràng hạt trên tay anh, không ai trong chúng ta không cảm thấy gần gũi… và một điều chắc chắn lời kinh anh lâm râm trên môi khi mắt anh… không buồn mở… cũng là lời kinh thuộc lòng của mỗi người, “Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà… Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử…”.
(Lm Minh Anh, Gp Huế)

Ngoài hai Bí tích Giải Tội và Thánh Thể mà Thầy Anrê năng nhận lãnh để giúp Thầy sống khiêm tốn và yêu mến Chúa hơn, thì “Bí tích Lời Chúa” lại giúp Thầy biết sống với Chúa và với mọi người sao cho phải đạo. Lời Chúa giúp Thầy sống kiên trung với niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh và bình an trong mọi hoàn cảnh, nhất là giữa thời buổi mà việc rao giảng Tin Mừng gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại “Tim an lắng”.

Thầy luôn lắng nghe Lời Chúa hướng dẫn để sống mỗi ngày. Lời Chúa giúp Thầy biết vui vẻ đón nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống. Chính vì thấm nhuần Lời Chúa mà khi bị quân lính xông vào bắt trói, Thầy vô cùng thanh thản mà không hề chống cự hay có những lời lẽ chống đối, bởi Thầy đã luôn chuẩn bị sẵn sàng cho giờ phút trọng đại này.

Lắng trong Lời Chúa, đó là sự bình an của một tâm hồn hoàn toàn tín thác mọi sự trong bàn tay quan phòng của Người Cha nhân từ “trong Lời ru Tuyệt Mỹ” như lời Thánh vịnh 118:

(165) Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái,
chẳng còn lo gặp chướng ngại nào.

(166) Lạy CHÚA, con đợi trông ơn Ngài cứu độ,
mệnh lệnh Ngài, con vẫn thực thi,

(167) Thánh ý Chúa, trọn bề tuân giữ,
hồn mến yêu hâm mộ chẳng rời.

(168) Ðường con, Chúa rõ mười mươi,
huấn lệnh, thánh ý, con thời vâng theo.




“Tim an lắng trong Lời ru Tuyệt Mỹ”
       
Tim an lắng” còn là những giây phút thinh lặng mà Thầy Anrê lắng hồn để nghe những lời tình yêu của Thiên Chúa như bài thơ số 13 “Nữ Vương nhắn con yêu dấu” của Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết:

“5. Này thinh lặng là ngôn từ sống động
Bởi tình yêu vốn khôn tả thành lời
Tiếng vô ngôn khi hiểu rất đẹp tươi
Nhớ từng ngày lắng nghe và bắt chước.”

Chính vì cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho một kẻ phàm nhân bất xứng, qua cái chết đầy khổ nhục của Chúa Giêsu trên thập giá, mà Thầy Anrê đã lựa chọn cho mình một hướng đi. Thầy nguyện dâng hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho Đấng đã hy sinh mạng sống vì Thầy “Nguyện tín thành” để cảm tạ và đền đáp mối tình tri ngộ mà Thầy đã được Ngài đón nhận vào Hội Thánh qua Bí tích Rửa tội và nhận Thầy vào hàng ngũ các Thầy giảng “đáp tình nghĩa ân sâu”.

“Nguyện tín thành đáp tình nghĩa ân sâu”

Sự tín thành của Thầy Anrê đối với tình yêu Thiên Chúa không chỉ là sự trung thành trong linh hồn mà còn thể hiện qua sự gìn giữ các giác quan nơi thân xác tựa như câu truyện sau đây:

Một buổi chiều, Cha Bề Trên một nhà dòng hỏi một đan, “Hôm nay con đã làm gì?”. Thầy trả lời, “Cũng như mọi ngày, con rất bận bịu…tự sức, con không thể nào làm nổi nếu không có Chúa. Ngày nào con cũng phải coi hai con chim ưng, giữ hai con nai, kìm hãm hai con diều hâu, cột con sấu trị con gấu và săn sóc một bệnh nhân”. Cha Bề Trên cười, hỏi lại, “Con nói gì? Những việc như thế đâu có trong nhà dòng?”. “Thưa Cha, thật đúng như thế. Hai con chim ưng là hai con mắt mà con phải giữ gìn luôn để khỏi nhìn những vật xấu. Hai con nai tức là hai chân mà con phải trông coi từng bước đi để khỏi đi vào đường xấu. Hai con diều hâu tức là hai bàn tay, con phải luôn luôn bắt nó phải làm điều lành. Con sấu là cái lưỡi, con phải kìm hãm hằng ngày để khỏi nói lờibổ và thô lỗ. Con gấu là trái tim, con phải trừng trị, để khỏi khoe khoang và ích kỷ. Còn bệnh nhân là chính thân thể con, con phải canh phòng ráo riết để nhục dục khỏi xâm hại”.

Và khi đọc lại biên bản của nhân chứng thứ nhất, chúng ta thấy Thầy Anrê đã trung tín với Thiên Chúa trong từng công việc phục vụ thường ngày, cũng như  những việc đạo hạnh phải giữ cho đến lúc chết một cách anh dũng vì đức tin.

“Nhân chứng trả lời rằng mọi người đều biết rằng thầy Anrê có những nhân đức đó, và rằng thầy đã chứng tỏ rằng thầy đã có những nhân đức đó, bởi thầy đã chịu đau khổ vì đức tin Chúa Kitô và vì đức mến dành cho Ngài, cùng với đức cậy trông đạt tới vinh quang. Và chính nhân chứng đã mắt thấy vào lúc các lý hình chực hạ sát thầy, thầy đã nói lời vĩnh biệt các Kitô hữu và những người hiện diện ở đó với những dấu chỉ của tình yêu thương và đức mến nồng nàn; ai cũng biết cha Alexandre Rhodes luôn khẳng định rằng thầy Anrê sùng đạo và nhiệt thành phụng sự  Chúa, siêng năng tham dự các bí tích Giải Tội và Thánh Thể, và thầy hằng khao khát cải đạo cho những người đồng bào mình, và thầy luôn tham dự Thánh Lễ, và thầy làm việc phụng vụ bàn thờ với lòng sùng mộ và sùng kính.”
(Nhân chứng thứ nhất:  João de Rezende de Figuciroa)

Chính sự kết hiệp mật thiết với Chúa trong đời sống cầu nguyện mà Thầy Anrê đã luôn khao khát mình được phúc tử đạo vì Danh Chúa. Hầu như các thánh tử đạo đều khao khát niềm hạnh phúc này. Chúng ta có thể đọc thấy điều đó nơi Thánh Ignatiô Antiôkia, giám mục tử đạo (+107)

Một niềm khát khao cháy bỏng nung nấu tâm hồn Ignatio, ngài nói, “Sắp đến giờ tôi được sinh ra để được hưởng sự sống đời đời. Xin anh em hãy buông tha  tôi. Đừng cản bước không cho tôi sống đời sống ấy... Tôi khao khát được thuộc về Thiên Chúa, xin đừng nộp tôi cho thế gian, đừng đem vật chất ra quyến rũ tôi. Hãy để tôi đón nhận ánh sáng tinh tuyền. Hãy cho tôi được bắt chước Chúa tôi mà chịu khổ nạn. Ai có Thiên Chúa trong lòng, người đó mới hiểu tôi đang muốn gì, mới thông cảm với tôi, vì biết được những gì đang thôi thúc tôi”.

Và Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu khi yêu mến Thiên Chúa đến mức tột đỉnh, cũng khao khát được chết vì Chúa.  Chị Thánh đã diễn tả sự ước muốn đó ở khổ thơ thứ 6 trong bài thơ 31 như sau:

6. Xin thỏa niềm ước ao cho cơn khát
Thổi lòng con cháy thêm Lửa Huyền siêu
Khát Tình Yêu con đau đớn liêu xiêu
Con chỉ muốn về bên Người, Lạy Chúa!...
Chỉ Tình Người cho tử đạo như thế
Càng thấy lòng cháy lên Lửa Tình Yêu
Tâm hồn con càng khát Chúa thêm nhiều
Ôi Giêsu, yêu Người con chết lịm!!!

(Con khao khát tình yêu – Thánh Têrêsa HĐGS)

           
1


Như vậy có thể nói, chiều sâu đời sống của Thầy Anrê Phú Yên chính là đời sống cầu nguyện, đời sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta có thể khẳng định cách chắc chắn mà không sợ sai lầm, chính nhờ đời sống cầu nguyện mật thiết này mà Thầy Anrê mới kín múc được muôn vàn ân sủng của Thiên Chúa. Chính nhờ tình yêu, sức mạnh của ơn Chúa ban cho, Thầy Anrê mới dám hy sinh mạng sống để chết cho Ngài.

Thầy Anrê Phú Yên, một tín hữu tân tòng, còn non người trẻ dạ. Thế nhưng một khi đã cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa và tin vào Chúa Kitô phục sinh, Thầy đã từ bỏ mọi sự để chỉ biết tìm Chúa, sống cho Chúa và cho mọi người. Còn chúng ta, cũng là những người Kitô hữu, những người tin vào Chúa Kitô phục sinh, chúng ta đi tìm điều gì? Chúng ta hãy lắng nghe bài giảng của một Linh mục:

Nhịp sống hôm nay xem ra quá vội vã; những bước chân bách bộ ngày càng hiếm hoi và dường như mỗi khi ra đường, người ta đâm đầu chạy. Chạy đi đâu? Người nghèo chạy cho bớt nghèo; người giàu chạy để giàu thêm. Vậy thử hỏi, có bao giờ chúng ta dừng lại để đặt một câu hỏi tương tự câu hỏi của người thanh niên trong Tin Mừng, “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” (x Mc 10, 17).

Trăn trở của người thanh niên có phải là trăn trở của mỗi chúng ta không? Cái thao thức mang chiều kích vĩnh cửu nơi anh có bao giờ xuất hiện trong ngày sống của chúng ta không? Vì rằng, ngày mỗi ngày, dù ở đấng bậc nào, là cha mẹ, là giáo viên, là công chức, là mục tử, là sinh viên, học sinh… tất cả chúng ta đều được mời gọi vươn lên, hướng lên, và tiến lên ở một cấp độ cao hơn, nhanh hơn và xa hơn. “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”.

Để có thể đặt ra câu hỏi ấy, hẳn người thanh niên kia phải suy nghĩ, trằn trọc nhiều đêm; để có thể thốt lên cái thao thức quan trọng ấy, hẳn người bạn trẻ đó phải khắc khoải nhiều ngày; anh phải nhiều lần rút lui khỏi cái huyên náo động đạc thường ngày, đắm mình trong tĩnh mịch… mới có thể nêu ra câu hỏi đó.

Đức Giêsu trả lời anh, “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ làm chứng gian, hãy thảo kính cha mẹ”. Người bạn trẻ chân thành trả lời, “Những điều đó tôi đã giữ từ tấm bé”. Và Đức Giêsu đem lòng yêu mến, thỏ thẻ cùng anh, “Anh chỉ còn thiếu một điều…” “Chỉ một điều mà thôi”, nghĩa là Ngài muốn anh tiến xa hơn.

Nếu có những lối đi yên tỉnh thì cũng có những ngõ vắng xôn xao, nếu có những đường làng quạnh hiu thì cũng có những đại lộ rộn rã. Trong đời sống làm con Chúa, đúng hơn, trong tình yêu, cũng thế, tình yêu có cả những đại lộ thênh thang lẫn những lối mòn chật hẹp.

Đức Giêsu đề nghị cho anh một lối hẹp, “Anh chỉ còn thiếu một điều là hãy về bán tất cả những gì anh có rồi đến mà theo tôi”. Ôi, chỉ có Ngài mới có khả năng nhìn thấy sợi hồng oan nghiệt vốn đang cuốn chặt đôi cánh đời anh khiến anh không thể bay lên. Sợi hồng đó chính là của cải.

Với người thanh niên là của cải, với chúng ta, có thể là một điều gì khác. Có thể là những cơn khát quyền lực, danh vọng, tiền tài; có thể là những đam mê xác thịt đang kéo chúng ta lệt đệt sát đất; có thể là những tham sân si, những xung năng tiềm ẩn bên trong khiến chúng ta ích kỷ sống cho mình mà quên mất tất cả, quên đạo làm người, quên nghĩa làm con, quên nhân phẩm, quên nhân cách, quên cả linh hồn…; cũng có thể đó là những hiềm khích chưa thể vượt qua, chưa thể tha thứ… Đó là những sợi hồng buộc chặt đôi cánh không cho linh hồn vỗ cánh bay cao.

Vậy thì phải làm sao? Thưa, phải khôn ngoan chọn lựa mỗi ngày, khôn ngoan như bài đọc thứ nhất nói, “Cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi”. Hãy để cho Lời Chúa, Lời của Đấng Khôn Ngoan soi rọi mỗi ngày, dẫu Lời Chúa sắc như gươm hai lưỡi thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can như bài đọc Do Thái nhắc nhở.

Và nhất là hãy biết lặng thinh để lắng nghe tiếng của Đấng Khôn Ngoan trong cầu nguyện và chiêm ngắm. Lặng thinh đích thực không phải là vắng tiếng động nhưng là tràn đầy sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, qua đó, chúng ta biết điều mình đang thiếu, biết đâu là sợi hồng đang trói buộc mình. Lặng thinh chính là một khoảng trời hạ xuống với con người và chỉ ở đó, người ta mới nghe đựợc điều cốt yếu, vì lời nói thuộc về thời gian, lặng thinh mới thuộc vĩnh cửu, cho nên, ai không biết lắng nghe, sẽ không biết mình mất mát những gì. “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”.

(Lm Minh Anh – Bài giảng Chúa Nhật XXVIII Thường Niên B)

 

Tác giả: Bình Nhật Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check