3. Chiều rộng đời sống của Chân phước Anrê Phú Yên
3. Nương theo Gió – Hương thơm nồng ngan ngát
Ẩn trong Mây – Sương thanh khiết ngất ngây
Đời tương ái gieo niềm vui hoan lạc
Ươm Lời Thơ muôn ý vị tung bay.
Nhà thơ Song Lam đã mở đầu khổ thơ thứ ba bằng hai câu đối đầy thi vị và thật sâu lắng:
“Nương theo Gió – Hương thơm nồng ngan ngát
Ẩn trong Mây – Sương thanh khiết ngất ngây”
Từ “Gió” và “Mây” được tác giả viết hoa là hàm nghĩa nói đến Thiên Chúa. Từ “Nương” là nương bóng, nương nhờ, nương cậy có nghĩa là không ỷ lại vào sức mình. “Ẩn” là ẩn bóng, ẩn náu, ẩn nấp có nghĩa là cần sự bao bọc, che chở. Vì thế hai câu đối này làm nổi bật lên lòng khiêm nhượng của Thầy Anrê Phú Yên. Thầy biết mình nhỏ bé, yếu đuối, như chiếc bình sành trong tay người thợ gốm, mỏng manh, dễ vỡ, nên Thầy không cậy dựa vào sức mình, cũng như không thể hiện mình là người có tài năng đức độ, nhưng luôn biết nương tựa vào ân sủng của Thiên Chúa “Nương theo Gió” cũng như sự che chở đầy quyền năng của Ngài “Ẩn trong Mây”, như lời Thánh vịnh:
(6) Có CHÚA ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì,
hỏi người đời làm chi tôi được?
(7) Có CHÚA ở cùng tôi mà bênh đỡ,
tôi dám nghênh lũ địch thù tôi.
(8) Ẩn thân bên cạnh CHÚA TRỜI,
thì hơn tin cậy ở người trần gian.
(9) Cậy vào thần thế vua quan,
chẳng bằng ẩn náu ở bên CHÚA TRỜI. (Tv 117, 6-9)
Bởi vì “Nương theo Gió” có thể hiểu là việc giữ luật pháp và các huấn lệnh của Thiên Chúa. Bởi vì luật pháp Chúa bổ sức cho tâm hồn, Thánh ý Ngài giúp người dại nên khôn, huấn lệnh Chúa làm hoan hỷ cõi lòng, mệnh lệnh Ngài giúp rạng ngời đôi mắt. Cho nên chỉ khi biết tuân giữ những huấn lệnh của Đấng Chân Thiện Mỹ, Thầy mới có thể tỏa ra hương thơm của Đức mến “Hương thơm nồng ngan ngát” như lời Thánh vịnh:
(8) Luật pháp CHÚA quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn.
Thánh ý CHÚA thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.
(9) Huấn lệnh CHÚA hoàn toàn ngay thẳng, làm hoan hỷ cõi lòng.
Mệnh lệnh CHÚA xiết bao minh bạch, cho đôi mắt rạng ngời.
(Tv 18B, 8-9)
Và “Ẩn trong Mây” được hiểu là lòng kính sợ Thiên Chúa, biết tuân giữ những quyết định của Ngài, không bao giờ được tự hào về công sức mình cũng như phải luôn biết ẩn náu trong tình yêu bao dung của Thiên Chúa. “Bởi vì bình an xây dựng trên công chính và vinh quang phát xuất từ lòng kính sợ Thiên Chúa” (x Br 5,4).
Và như sách tiên tri Isaia tiên báo về Đức Ki-tô
“Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này:
thần khí khôn ngoan và minh mẫn,
thần khí mưu lược và dũng mãnh,
thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa
lòng kính sợ Đức Chúa làm cho Người hứng thú” (Is 11, 2-3a)
Thì Thầy Anrê Phú Yên cũng đã cảm nhận được niềm vui khi kính sợ Đức Chúa – người Cha nhân từ; chứ không phải là sự sợ hãi như khi đối diện với vị thẩm phán.
Có thể nói, lòng kính sợ của Thầy phát xuất từ một tình yêu chân thành và trong trắng như sương thanh khiết, ngọt ngào hơn cả mật ong nguyên chất. Chính tình yêu tinh tuyền mà Thầy Anrê dành trọn vẹn cho Thiên Chúa đã làm thu hút biết bao tâm hồn trở về với Ngài “Sương thanh khiết ngất ngây” như Thánh vịnh 18B diễn tả:
(10) Lòng kính sợ CHÚA luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời.
Quyết định CHÚA phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh,
(11) thật quý báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng,
ngọt ngào hơn mật ong, hơn mật ong nguyên chất.
(14) Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo,
đừng để tính xấu này thống trị con.
Như thế con sẽ nên vẹn toàn
Không còn vương trọng tội.
(15) Lạy CHÚA là núi đá cho con trú ẩn,
là Ðấng cứu chuộc con, cúi xin Ngài vui nhận
bấy nhiêu lời miệng lưỡi thân thưa,
và bao tiếng lòng con thầm thĩ
mong được thấu đến Ngài. (Tv 18B, 10-15)
Chúng ta còn có thể hiểu khổ thơ này theo một nghĩa tích cực về lòng tin và đức mến của Thầy Anrê Phú Yên. Khi ý thức được trách vụ của một thầy giảng trong giai đoạn Hội Thánh sơ khai còn quá non trẻ, gặp nhiều khó khăn và lắm trở ngại trong việc loan báo Tin Mừng. Thầy Anrê luôn biết xin Chúa Thánh Thần “Nương theo Gió” hướng dẫn mình trong mọi công việc, để những công việc Thầy làm được hoàn thành cách tốt đẹp theo Ý Chúa “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ”(Mt 5, 16). Ánh sáng đó chính là thành quả, là hương thơm của ân sủng giúp mọi người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài “hương thơm nồng ngan ngát”. Nếu một người nào luôn khoe khoang và tự hào về thành quả công việc mình làm, thì có lẽ nó không còn là ánh sáng và cũng chẳng phải là hương thơm.
“Nương theo Gió – hương thơm nồng ngan ngát”
Đồng thời Thầy Anrê cũng không ngừng xin Chúa Cha “Ẩn trong Mây” cho Thầy biết sống thế nào cho tốt đời đẹp đạo, biết giữ phép nước, biết trọng luật Trời, biết thương yêu và rộng tình tha thứ, biết hòa giải mà không tranh chấp, biết hiệp nhất mà không phân biệt, dù đó là lương hay giáo, người thuận tình hay không hợp tính. “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngòai cho người ta chà đạp thôi.” (x Mt 5, 13).
Chính nhờ luôn biết khiêm cung nương tựa vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, tinh thần yêu thương và phục vụ của Thầy Anrê đã được nhà thơ ví như những hạt sương thanh khiết. Cũng như hương thơm, sương là những làn mây mỏng chúng ta thể thấy nhưng không thể bắt được, có thể đi vào bên trong và cảm nhận được sự trong lành và vô cùng thanh khiết của nó “sương thanh khiết ngất ngây” nhưng không thể sờ chạm.
“Ẩn trong Mây – sương thanh khiết ngất ngây”
Sự khiêm cung “Ẩn trong Mây” của Thầy Anrê Phú Yên làm tôi nhớ đến tâm tình của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu viết trong bài thơ số 5 với tựa đề “Bài ca ngày hôm nay” cũng diễn tả một tình yêu tín thác như vậy:
6. Ôi lạy Chúa! Con ẩn trong Nhan Thánh
Kẻo lòng vương tiếng hư huyễn mù quay
Khứng dủ tình bọc con bằng ân sủng
Trong tình Ngài, con chỉ có hôm nay.
7.Bên Thánh Tâm, con quên đời dĩ vãng
Hết hãi hùng cảnh đêm tối bủa vây
Xin góc ẩn trong Tim Yêu vô lượng
Giê-su ơi! con chỉ có hôm nay.”
(Bài ca hôm nay –Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)
Đối với Thầy Anrê, được phục vụ mọi người là dịp để Thầy sống Lời Chúa “Đời tương ái” – “ 43 Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10, 43-45) – và khi thể hiện tình yêu của mình đối với Chúa là Thầy thực hiện sứ mạng rao giảng Tin Mừng của một thầy giảng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng chính công việc phục vụ của mình. Thầy không coi phục vụ là một công việc nặng nề, khó nhọc; nhưng qua phục vụ, Thầy cảm thấy mình vô cùng hạnh phúc vì đem niềm vui đến cho mọi người “gieo niềm vui hoan lạc”.
Niềm vui hoan lạc mà Thầy Anrê đem đến tựa như ban hợp xướng mà thánh Ignace d’Antioche nói đến trong bức thư gửi tín hữu Ephèse: “Anh em, mỗi người và từng người, hãy làm nên một ban hợp xướng, để trong sự hòa điệu các thanh âm của anh em, khi bắt theo cung giọng của Thiên Chúa trong hiệp nhất, nhờ Đức Giêsu Kitô, anh em cất lên, bằng cùng một tiếng hát, một thánh thi dâng lên Chúa, ngõ hầu Người lắng nghe anh em và nhìn nhận anh em, nhờ những việc lành anh em làm, như là chi thể Con của Người. Vì thế, thật ích lợi cho anh em, nếu anh em ở trong sự hiệp nhất vô phương trách cứ, hầu mãi mãi được thông dự vào Thiên Chúa”.
Trong tâm tình phục vụ, với tấm lòng rộng mở yêu thương mọi người của Thầy Anrê, làm tôi nhớ đến đức bác ái của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII khi ngài nói: “Bất luận tôi đi đâu, nếu ban đêm có người nào lỡ đường trước cửa nhà tôi, sẽ thấy cửa sổ tôi luôn có ngọn đèn sáng. Xin đừng ngại, hãy gõ cửa. Tôi sẽ không hỏi anh em là Công Giáo hay không? Chỉ xin người anh em cứ vào, sẽ có đôi tay thân ái đón tiếp và tấm lòng bạn hữu nồng hậu chào mời”.
“Đời tương ái gieo niềm vui hoan lạc”
Khi càng chiêm ngắm và áp dụng Tin Mừng vào cuộc sống thường ngày “Ươm Lời Thơ”, Thầy Anrê càng cảm nhận được hương vị ngọt ngào của Lời Hằng Sống. Lời Chúa không ép buộc tình yêu và làm mất sự tự do của Thầy, nhưng Lời Chúa mời gọi Thầy đáp trả tình yêu một cách tự do với lòng quảng đại. Chính khi lấy tình yêu đáp trả tình yêu mà Thầy cảm nghiệm được đời sống của mình ngày một hạnh phúc, được thăng hoa trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa “thêm ý vị tung bay” theo như lời Thánh Phêrô Tông đồ đã viết:
“Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được.8 Trước hết, anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi.9 Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca.10 Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa.11 Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế, trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô.” (1 Pr 4, 7-11)
Trong bản trình thuật thứ nhất về cuộc tử đạo của Thầy Anrê Phú Yên, Cha Đắc Lộ cũng đã công nhận sự phục vụ đầy chân tình của Thầy đến nỗi đã làm Thầy suýt mất mạng sống:
“Thầy có một trí khôn tinh tường; thầy đã biết được hết các chữ cách tốt đẹp, và đã có thể nói nhiều chuyện về Thiên Chúa. Thầy được thiên phú một trí phán đoán tốt, cũng như rất khéo tay; chính Thầy, khi ở thủ đô (thủ phủ?) đã làm hang đá rất thành công, mà tôi đã nói ở trên. Thể tạng thầy hơi yếu, nhưng Thầy không quản ngại khó nhọc khi có việc phải làm, ví dụ như phải ra tay chèo thuyền mỗi khi Thầy đưa tôi đến chỗ này hoặc chỗ kia, thường thường là Thầy hay đi với tôi; ngoài ra năm ngoái Thầy đã suýt mất mạng vì công việc nặng nhọc thầy phải gánh vác với các anh em khác để dựng lại ngôi nhà của chúng tôi ở Đà Nẵng, và tôi đã nghĩ là không thể làm gì khác hơn là đem Thầy đi chôn cất, vì Thầy ngã xuống như một xác chết trên vạt đất; nhưng Chúa, là Đấng đã dành cho Thầy vòng hào quang tử đạo vẻ vang, như một phép lạ Chúa đã trả lại cho Thầy mạng sống để bây giờ Thầy có thể hiến dâng với hết lòng can đảm và kiên cường vì vinh dự và vinh quang của Chúa. Và tôi, một người khốn khổ hèn hạ, này tôi than khóc các tội lỗi tôi, chúng đã ngăn cản tôi đạt tới cùng một tầm mức vĩ đại; và tôi cầu nguyện với Thầy Anrê diễm phúc, trước đây vốn là đứa con của tôi và bây giờ lại là đấng bảo trợ đặc biệt của tôi, xin ngài làm đấng bầu cử cho tôi bên Thiên Chúa, để tôi có thể bước theo những bước chân vĩ đại, những bước chân đã đem lại nhiều vinh dự cho Chúa và cho người Kitô hữu ở đây.
“Ươm Lời Thơ thêm ý vị tung bay”
Chính vì muốn “Ươm Lời Thơ thêm ý vị tung bay” mà Thầy Anrê đã chấp nhận mình bị bắt thay cho thầy Inhaxiô và những thầy giảng khác. Việc Thầy bị bắt như là tiếng chuông báo động cho các thầy giảng tìm nơi ẩn tránh trong cơn bách hại đạo Chúa. Đây chính là đỉnh cao của đời sống đức tin được thể qua đức ái mà Thầy Anrê đã thực thi một cách trọn hảo. Sự hy sinh mạng sống của Thầy Anrê vì người những anh em cũng tương tự như sự hy sinh chết thay cho tù nhân Francois Gajowniczek của Thánh Maximilianô Maria Kolbê (1894-1941) trong trại tập trung Auschwitz của Đức Quốc Xã ngày 14 tháng 8 năm 1941.
Rõ ràng Lời Chúa đã được gieo vào trong một mảnh đất tốt, đó là tâm hồn của Thầy Anrê “Ươm Lời Thơ”, và hạt giống đó đã sinh ra hoa quả đầu mùa cho Giáo Hội Việt Nam khi chịu mục nát vì anh em “thêm ý vị tung bay” theo gương Chúa Giêsu Kitô như Thánh Gioan Tồng đồ đã viết:
“Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.” (1 Ga 3,16)
24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. (Ga 12, 24-25)
Lúc này bài hát “Hạt giống tình yêu” của Linh mục Phương Anh với giai điệu và tiết tấu đầy cảm xúc đã diễn tả thật sâu sắc ý nghĩa hiến dâng mạng sống cho anh em của những tâm hồn yêu mến Chúa.
1- Nếu hạt lúa mì, rơi xuống đất, không chết đi, không thối đi,
thì nó chỉ trơ trọi một mình thôi.
Và nếu, hạt lúa mì, rơi xuống đất, mà chết đi, mà thối đi,
thì nó sẽ sinh ra nhiều bông hạt.
ĐK: Và lạy Chúa, con biết thế, và con muốn,
con chết đi như hạt lúa mì.
Tình thập giá, ngày xưa ấy, của Thầy Chí Thánh,
xin thắp lên, trong con tim con.
Này con bước, vào dương thế, để làm theo ý,
Cha đã trao, khi dựng vũ hoàn.
Là con đến, để dâng hiến, trọn thân xác,
để chết đi, cho anh em con.
3- Nếu quả tim nào nơi dương thế, không biết yêu, không biết thương,
thì nó chỉ trơ trọi một mình thôi.
Và nếu, quả tim nào nơi dương thế, mà chết đi, vì hiến dâng,
thì nó phải sinh ra nhiều hoa quả.
Và nếu hiểu chiều rộng cuộc đời là việc mưu cầu hạnh phúc cho người khác, thì quả thật, Thầy Anrê đã sống đức ái thật trổi vượt, đáng cho chúng ta noi theo như lời Linh mục Gioan Võ Đình Đệ đã viết về Thầy Anrê Phú Yên trong bài “Một cuộc đời hoàn thành”:
Cha Đắc Lộ tóm tắt hoa quả về cách đối nhân xử thế của Anrê: “Anrê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn thầy đã biểu lộ ra ngoài; thầy sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ; thầy có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người, khiến ai ai cũng đều cảm phục”. Sự thông minh và những khả năng của thầy chẳng làm hại chút nào đến đường tu đức của thầy: “Tất cả những lợi điểm đó chẳng làm cho thầy có chút vẻ gì là kiêu ngạo hay tự mãn: Thầy coi mình như kém hết mọi người, và không có gì làm cho thầy bằng lòng hơn là được dịp phục vụ người khác”.
Quả vậy, Anrê nhỏ con, nhỏ người, ốm yếu, làm những việc nhỏ: Dọn bàn thờ, làm hang đá, chăm sóc bệnh nhân…, nhỏ nhất trong nhóm thầy giảng Đàng Trong, nhỏ tuổi đời, nhỏ tuổi đạo, nhỏ tuổi tu: Sinh năm 1625, rửa tội năm 1641, nhập đoàn thầy giảng năm 1642, khấn trọn năm 1643, tử đạo năm 1644.
Dưới bóng cha Đắc Lộ và một số thầy giảng từng là ông cử, ông quan, thầy Anrê trẻ tuổi, quê mùa, chơn chất không có gì đáng kể. Tuy nhiên, mặt trời chiếu soi ban ngày, vầng trăng soi chiếu ban đêm, sao hôm, sao mai dù leo lét nhưng cũng là một dấu chỉ đường, một ngọn hải đăng trên bầu trời. Có đường Quốc lộ 1 thì cũng có những con đường bờ ruộng, con đường làng nhỏ hẹp; có cầu Ngân Sơn với những kỷ thuật cao cho bộ hành Nam Bắc thì cũng có những cầu bê tông giản đơn, cầu khỉ, cầu tre cho cư dân và du khách về các xóm làng; có sông Ngân với dòng nước trong xanh phát nguyên từ dãy Trường Sơn hùng vĩ thì cũng có những dòng suối nhỏ nên thơ, hữu tình, nước róc rách góp lại cho dòng sông. Ai cũng có gì để cho, ai cũng có gì để đóng góp cho anh chị em, cho Hội Thánh. Trọn tâm, trọn ý, trọn tình từ trong công việc nhỏ, đơn điệu, âm thầm, đó là đạo lý của Tin Mừng: “Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc nhỏ mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh lên coi việc lớn, hãy vào hưởng niềm vui của chủ anh” (x Mt 25, 21).
(Chân Phước Anrê Phú Yên, một cuộc đời hoàn thành)
Lm. Gioan Võ Đình Đệ
Qua khổ thơ này, từ sự cảm nhận chiều rộng đời sống bác ái của Thầy Anrê Phú Yên, có lẽ nhà thơ muốn chia sẻ với chúng ta căn tính của một người Kitô hữu: Yêu mến Chúa, chăm sóc những ai mà Chúa gửi đến và chuẩn bị để vác thập giá. Đó là những điều mà Chúa Giêsu chờ đợi ở những ai muốn theo Ngài. Yêu mến Chúa là yếu tố căn cốt của người môn đệ chân chính, thể hiện qua việc yêu thương chăm sóc những ai Ngài trao phó, bởi vì chăm sóc chính là căn tính đích thực của người tín hữu, bất luận họ ở đấng bậc nào, chức vụ nào hay nghề nghiệp nào. Họ có thể là cha mẹ, là tu sĩ, là Linh mục, là Giám mục...; có thể là thủ trưởng cơ quan, trưởng phòng hay là chỉ một nhân viên bình thường...; cũng có thể là kiến trúc sư, bác sĩ, giáo viên, lái xe, nông dân, hoặc công nhân vệ sinh đường phố... thì đều phải sống và thực hiện những điều trên mà không nên phí thời giờ vào những việc vô bổ.
Chúa Giêsu kể cho chúng ta nghe về người Samaria nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, người ấy yêu bằng việc làm, chứ không trên chót lưỡi đầu môi, hoặc chỉ cảm thương… để không làm gì cả; người ấy yêu bằng miệng nói tay làm, hoặc không cần nói gì cả nhưng làm với khả năng có thể. Những việc làm cụ thể luôn luôn sống động hơn những lời nói suông và con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó, “Hãy đi và làm như vậy”.
Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho một người anh em là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ, sợ thiệt hại cho mình, sợ mất thời giờ, sợ liên luỵ, sợ tốn kém… và ngay cả sợ người khác cho mình là đạo đức.
Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Kahil Gibran có một câu nói chí tình, “Bạn cho đi quá ít, khi chỉ cho của cải; cho đi chính mình, bạn mới thật sự cho đi”.
Càng tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình; càng co cụm trong ích kỷ, càng chết dần, chết mòn trong cô đơn; càng muốn được yên thân, càng vong thân. Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống để xót thương.
Linh mục Minh Anh chia sẻ:
Một cô gái đỏng đảnh trước một quầy dừa hỏi, “Bao nhiêu tiền một trái vậy ông?”. Ông già bán dừa trả lời, “Thưa cô 10 ngàn 1 trái”. Cô gái nói, “Bán cho tôi 2 trái 15 ngàn được không, nếu không, tôi đi chỗ khác”. Ông già trả lời, “Cô lấy đi, tôi đứng cả ngày, chưa bán trái nào cả”. Cô gái lấy hai trái dừa, bước đi với cảm giác của một người chiến thắng. Cô bước vào xe, đi đón cô bạn; cả hai vào một tiệm ăn sang trọng. Họ ngồi xuống bàn, gọi những gì họ thích… chỉ ăn một ít và để lại rất nhiều. Sau đó cô thanh toán hoá đơn, 850.000đ; cô đưa 900.000đ và nói với cậu chủ, “Khỏi thối”. Sự việc này có vẻ rất bình thường đối với cậu chủ tiệm giàu có… nhưng nó rất đau đớn cho cụ già đẩy xe bán dừa tội nghiệp. Trái dừa có một chút mặn của mồ hôi, một chút cay cay… của nước mắt...
Tại sao chúng ta thể hiện sự tính toán chi li khi mua hàng của những người nghèo tội nghiệp? Và tại sao chúng ta lại quá hào phóng với những người không cần sự hào hoa của chúng ta?
Và một bạn trẻ có tên Nhật Nam kể: “Trời đã về khuya, hai người đàn ông ngồi cạnh nhau… một người ôm cây đàn, hốc mắt lõm xuống; một người tóc muối tiêu. Họ mở túi tiền, bỏ vào mũ và đếm. Tiền 2.000, tiền 5.000, 10.000, 20.000 và thi thoảng có vài tờ 50.000 hay 100.000.
Chú sáng mắt nói:“Hôm nay cuối tuần, người ta đi nhậu nhiều… có mấy khách cho sộp lắm… mong có kha khá mua mấy món đồ cho tụi nhỏ”.
Tò mò… tôi ghé hỏi: “Hai chú là anh em?”,
- “Không, là bạn, ông bạn chú tật nguyền từ nhỏ”
- “Chú chở chú này đi hát bao lâu rồi?”.
- “Chú làm việc ban ngày, ban đêm chở bạn đi hát, ai thương thì cho ít cho nhiều, chứ ổng không chịu ngồi đường… chờ bố thí, cũng không để người nhà nuôi”.
Lúc này chú mù mới nói: “Cũng hai mươi mấy năm rồi con, ổng là đôi mắt, đôi chân đưa chú đến những nơi chú có thể hát. Ngày xưa ổng chở chú bằng xe đạp, sau này bằng xe máy”.
- “Mỗi ngày xong việc, hai chú chia nhau thế nào?”
- “Được bao nhiêu, chia đôi, chú lo tiền xăng”, chú sáng mắt trả lời.
- “Chúc hai chú nhiều sức khoẻ và ấm áp bên gia đình”
- “Cám ơn cháu, cũng vậy nhé”.
Tôi lại đi, một vòng, hai vòng sau, và lại tò mò nhìn hai chú. Chợt thấy điều lạ lạ… chú sáng mắt dúi vào tay bạn một xấp tiền, đa số là tiền 100.000, 50.000 và 20.000, còn trên tay chú là… tiền lẻ.
- “Đây, phần của ông, chia đôi… rồi đó”
- “Cám ơn ông, bao nhiêu năm… ông giúp tôi đi và chia đều cho tôi”.
Mắt tôi chợt cay cay, “Chia đôi” đâu có nghĩa là hai phần bằng nhau. Người bạn mù tin bạn mình hoàn toàn; người bạn sáng mắt lại muốn cho bạn mình phần nhiều hơn. Trên đời… có những người rất nhiều tiền, nhưng ở đây, có hai người thật sự giàu có. Cuộc sống còn quá nhiều điều tốt đẹp… Trời về sáng, mắt tôi nhạt nhoà… nhưng con tim đập… rộn rã… tình người”
Nhà triết học Pascal đã nói: “Khuyết tật lớn nhất của một người là phục vụ quá ít những kẻ họ yêu thương”.
Qua câu truyện này, chúng ta thấy, anh sáng mắt và anh mù đã thực hành Lời Chúa một cách thật sống động. Họ không phải là anh em nhưng lại coi cái tình trọng hơn chữ tiền, trong khi có nhiều người bà con trong dòng họ, thậm chí đến anh chị em ruột, cũng như nhiều đôi vợ chồng lại coi chữ tiền trọng hơn tình nghĩa. Họ tranh giành tiền của, tài sản, chi li từng đồng, so kè từng cm đất, đến nỗi đánh mất cả tình nghĩa, không nhận bà con, chối bỏ anh em, vợ chồng ly dị…
(Lm Minh Anh, Gp Huế)
Qua câu chuyện minh giải, chúng ta cảm nhận được tình Chúa mà Thầy Anrê đã sống với mọi người. Chúng ta hãy noi gương Chân Phước Anrê Phú Yên để tập sống bác ái như lời thánh Phaolô gửi tín hữu Roma:
(6) Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Ðược ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. (7) Ðược ơn phục vụ, thì cứ phục vụ. Ai dạy bảo, thì cứ dạy bảo. (8) Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát, thì phải chân thành. Ai chủ tọa, thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái, thì hãy vui vẻ.
(9) Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; (10) thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; (11) nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. (12) hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. (13) hãy chia sẻ với các thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà. (Rm 12, 6-13)