6.Thắp bầu trời rực sáng những vì sao

6.Ơi ngọn lửa bùng lên bao ngọn lửa
Thắp bầu trời rực sáng những vì sao
Ơi dòng máu nhuộm thắm đất anh hào
Ươm Nước Việt rạng ngời Danh Chí Thánh.
Hôm đó vào quãng trưa, quân lính lùng sục bắt thầy Inhaxiô, một trong hai trưởng nhóm của Hội Thầy Giảng. Thầy Anrê Phú Yên mạnh dạn ra mặt hỏi bọn lính và nói:
“Nếu các anh muốn bắt Inhaxiô thì vô ích, vì Inhaxiô không có ở nhà. Nếu muốn bắt tôi thì tôi sẵn sàng: tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng, tôi có cả hai tội mà các anh gán cho Inhaxiô để bắt thầy ấy. Vậy thầy ấy mà có tội, thì làm sao tôi vô tội được”. (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort du cathèchiste André, tr. 11).
Thầy Anrê bị bắt, nhưng lạ thay thầy bước đi giữa quân lính trong niềm hân hoan vui sướng. Thầy không quên bổn phận của mình là phải rao giảng đức tin. Ngay trong hoàn cảnh đang bị đưa về lao tù, khi xuống thuyền, thầy đã giảng cho bọn lính về Đức tin. Bọn lính ngơ ngác nhìn nhau cảm động, chính những lời giảng dạy ấy mà quan Nghè Bộ dựa vào đó để kết tội thầy trong khi không bắt được thầy Inhaxiô.
Quân lính điệu thầy Anrê đến quan Nghè Bộ, vị quan này tưởng Anrê trẻ tuổi non dại không có đủ gan dạ, thế nào mình cũng thuyết phục được, quan nói: Đã trót theo “tả đạo”, vậy hãy từ bỏ, quan sẽ giúp đỡ, nếu không quan có cách khiến cho hối không kịp.
Đáp lại một cách đơn sơ nhưng đầy hào khí, Anrê Phú Yên nói: “Quan và cả bộ hạ có thể giết tôi về phần xác dễ dàng nhưng không thể làm lay chuyển Đức tin và lòng mến Chúa trong tâm hồn tôi”.
Quan Nghè Bộ thấy thái độ kiên quyết của Thầy giảng Anrê Phú Yên, vô cùng tức giận. Không nói lại nửa lời, quan lệnh cho lính đeo gông vào cổ Anrê Phú Yên, tống giam vào ngục, ngày mai sẽ quyết định.
Sáng hôm sau 26 tháng 07 năm 1644, quan Nghè Bộ triệu tập phiên tòa chớp nhoáng. Kết thúc phiên toà là án tử dành cho hai giáo hữu cùng tên Anrê: một người đã 73 tuổi, còn người kia là vị anh thanh niên 19 tuổi đời. Người giáo hữu 73 tuổi cuối cùng thì được tha, vì đã tuổi già sức yếu, nhưng Anrê Phú Yên thì chịu án tử hình.
Trong lao tù, có nhiều người tới thăm vị thanh niên này: già trẻ lớn bé, cả người bên lương. Thầy giảng Anrê Phú Yên đón tiếp mọi người rất niềm nở, thầy nói:
“Anh chị em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu của ta, ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu đau khổ vì ta, ta hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống”.
Trong cùng ngày tuyên án, cha Đắc Lộ thăm thầy Anrê và ôm hôn thầy, hôn thánh giá của thầy, với đôi dòng lệ tuôn trào, không sao nói được nửa lời. Thầy giảng Anrê Phú Yên nói lớn tiếng: “tôi là kẻ có tội” xin mọi người cầu cho tôi được chịu khó cho tới chết. Đầy lòng tin cậy, thầy nói tiếp: tôi chẳng sợ cơn điên dại của kẻ dữ, chỉ có thể giết mình phần xác, tôi chỉ sợ Đức Chúa Trời có quyền phạt cả hồn lẫn xác (xc. Alexandre de Rhodes, Relation Progès Foi, tr 31).
Thầy đã thắp lên ngọn lửa của Chúa Giêsu trong lòng những người đến thăm thầy: ngọn lửa Tin Mừng, ngọn lửa yêu thương, ngọn lửa tha thứ, và đặc biệt, ngọn lửa hăng say sống cho Đức tin và chết cũng cho Đức tin. Thầy An-rê không hề run sợ trước cái chết đang chờ, thầy hân hoan và ngóng chờ giây phút ấy, giây phút thầy được cùng với chư thánh trên trời hội ngộ: “Tôi tưởng như cửa thiên đàng đã mở ra cho tôi. Tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đón tôi, bao nhiêu Thánh Tử Đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi Thiên Đàng! Hạnh phúc dường bao! Tại sao người ta trì hoãn lâu thế” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort glorieuse d’Andé, tr. 46).
Vào khoảng 4 giờ chiều, một tên lính cho Thầy giảng Anrê Phú Yên biết sắp tới giờ đi xử, hãy chuẩn bị ăn đi, kẻo không kịp. Cha Đắc Lộ khuyên thầy dùng chút của ăn để có sức ra pháp trường. Thầy giảng Anrê Phú Yên ăn một vài cái bánh, uống một ly nước, rồi nói: “Thế là đủ lắm rồi, chẳng cần gì hơn nữa, để dành ăn tiệc thánh trên thiên đàng”.
Quân lính đưa thầy ra pháp trường. Thầy giảng Anrê Phú Yên biết giây phút cuối cuộc sống trần thế của mình đã đến, thầy quay về phía giáo hữu để từ giã lần chót với những lời thiết tha “Xin anh chị em hãy trung thành với Chúa tới chết, không một điều gì có thể giập tắt lòng kính mến Chúa Kitô trong trái tim ta” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort d’Andre, tr 53).
Thầy đã bị chém rơi đầu vì Đức Tin, cha Đắc Lộ đã mang đầu của thánh nhân về Roma, và hiện đang được cất giữ cẩn thận tại nhà Trung Ương của Dòng Tên. Ngọn lửa Đức Tin Công Giáo tại quê hương Việt Nam đã được thắp lên, và rồi, kế tiếp ngọn lửa ấy, ngàn ngàn ngọn lửa tiếp theo. Biết bao con người Việt Nam đã anh dũng tuyên xưng Đức tin, biết bao dòng máu đào đã tưới đẫm quê hương Việt vì Đức tin, để rồi từ đó cho một mùa gặt dồi dào. Anrê Phú Yên đã nằm xuống, nhưng ngọn lửa Ngài đã làm bùng lên luôn cháy mãi.
Nguyễn Hiền Nhu (Radio Vatican)
Và trong trình thuật thứ nhất nói về cuộc tử đạo Thầy giảng Anrê Phú Yên, cha Đắc Lộ viết ngày 01/8/1644 có đoạn như sau:
“Các Kitô hữu chung góp tiền mua một cỗ quan tài quí giá để quàn thánh tích; họ cung kính đưa tiễn một đoạn dài hai dặm, nhưng không gây ồn ào để tránh sự chú ý của kẻ thù nghịch đức tin của chúng ta. Thi thể thánh đến bến tàu, mọi người trong nhà tôi đều đang chờ đợi ở đó với những cảm xúc mạnh mẽ nhất, đặc biệt là hai người có chức Thầy. Vì chưng, họ mới chính là đối tượng người ta đích danh lùng bắt để giam tù và xử tử, nhưng người ta đã không tìm ra, thầy Anrê đã cướp mất vòng hào quang tử đạo; vậy nên họ tranh nhau xin phép tôi đi nộp mình, và không cần giấu giếm trình diện ở Kẻ Chàm là nơi họ đang bị truy lùng; còn tôi, tôi ra lệnh cho họ không được đi ngang qua đó cho đến khi cơn gió loạn này đi qua; và tôi bảo họ: “Nếu Thiên Chúa, Chúa chúng ta muốn ban cho vinh quang tử đạo, thì anh em phải cố ẩn nấp cẩn thận hết sức có thể, phải sống thận trọng và khôn ngoan, thì giờ phút ấy sẽ đến không chậm trễ, còn nếu anh em tự đi nộp mình cách thiếu khôn ngoan, thì có thể Thiên Chúa sẽ phạt anh em và từ chối ban ơn của Ngài cho anh em, mà không có ơn đó sẽ không thể có một vị tử đạo thực thụ được”. Và tôi hỏi những người khác đang ở với tôi xem họ có sẵn sàng đi cùng một con đường mà Thầy Anrê diễm phúc đã bước đi chăng, hay khi nhìn thấy những cuộc bách hại như vậy đối với đoàn thì muốn bỏ đi và quay trở về nhà. Tất cả họ thưa rằng họ muốn bước theo vị Thủ Lãnh Giêsu của họ, và với ân sủng của cùng một Chúa họ sẽ đồng hành với tôi cho đến chết; và một trong những người đến sau hết, có tên là Giôsê, tuyên bố rằng trong khi chờ đợi, ông sẽ bắt đầu chuẩn bị sẵn giây mây, để khi những kẻ hành pháp đến, họ đã có sẵn giây mây đó để trói họ và giải đi cầm tù. Chắc chắn là phải tạ ơn Chúa khi nhìn thấy 12 thanh niên – đó là con số còn lại trong nhà tôi – rất vui mừng và bằng lòng bất chấp hiểm nguy đã đến, và không có một phần thưởng nào ngoài phần thưởng họ đang mong chờ nơi Chúa chúng ta trong vinh quang; và với tôi dường như đó là hoa trái của lời cầu nguyện của Thầy Anrê diễm phúc.”
(Trình thuật thứ nhất cuộc tử đạo Thầy giảng Anrê Ranran (Phú Yên) do Lm Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) 01-8-1644.)
Trong khổ thơ này, thi sĩ Song Lam cũng đã sánh ví Chân Phước Anrê Phú Yên như ngọn lửa Tin Mừng, ngọn lửa yêu thương, ngọn lửa tha thứ, và đặc biệt, ngọn lửa hăng say sống cho Đức tin và chết cũng cho Đức tin “Ơi ngọn lửa”.
Ngọn lửa tình yêu của Thầy Anrê không chỉ nhen nhúm, thắp lên một cách âm thầm những ngọn nến, những bó đuốc chưa đỏ lửa. Đó là những tâm hồn hướng thiện nhưng chưa nhận biết Thiên Chúa, thì nay, khi thấy sự hy sinh mạng sống vì Đức tin một cách cao cả của Thầy, đã khơi dậy trong họ một niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô – Đấng Cứu Thế.
Ngọn lửa đức tin của Thầy Anrê còn tác động cách minh nhiên và mạnh mẽ đến những ngọn nến, những bó đuốc đã có lửa. Đó là những Kitô hữu, những thầy giảng cũng sẵn sàng sống và chết vì niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh như Thầy “bùng lên bao ngọn lửa”.
Quả thật như vậy, sau này trong 12 thầy giảng, đã có thêm 2 vị tử đạo và 7 thầy bị cầm tù chặt một ngón chân như bài Trường Ca Anrê Phú Yên của Linh mục Phêrô Võ Tá Khánh (Trăng Thập Tự) đã viết:
“Dưới bầu trời nước Việt
Sau cái chết của Thầy
Đoàn Thầy giảng mọi ngày
Đã đầy mười hai vị
Cùng một lòng một ý
Làm chứng cho Giêsu
Bảy vị bị ở tù
Bị chặt chân một ngón
Còn hai người anh lớn
Là I-nhã thuở nào
Và Vinh-sơn anh hào
Đúng một năm sau đó
Cũng bị quan xử tử.”
“Ơi ngọn lửa bùng lên bao ngọn lửa”
Và nối tiếp “Hiến lễ đầu mùa” của Thầy Anrê Phú Yên, một loạt các ngọn lửa đã được hiến tế và trở thành những “Vì Sao” không những chiếu sáng quê hương Đất Việt, mà còn tỏa ánh khắp cả bầu trời. Đó là 117 chứng nhân đức tin đã được tuyên phong hiển thánh.
Theo quốc tịch, 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được chia ra như sau: Theo Việt sử, các vị này đã bị giết trong những đời vua chúa sau đây:
Trong thế kỷ 18 và 19, có khoảng từ 130 ngàn đến 300 ngàn người Công giáo đã chết vì đạo; riêng trong thời gian từ 1857 đến 1862, có khoảng 5 ngàn tín hữu bị giết, khoảng 40 ngàn tín hữu cùng 215 giáo sĩ, tu sĩ nam nữ đã bị bắt, bỏ tù hay lưu đày vì đạo. Trong số đó có 117 vị tử đạo từ 1745 đến 1862, được Giáo hội Công giáo Rôma tôn vinh Chân phước qua bốn đợt: Tất cả các ngài được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong Hiển Thánh tại giáo đô Roma vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
“Thắp bầu trời rực sáng những vì sao”
Và truyện kể về những ngọn lửa, những vì sao hôm nay:
Ngày kia tại Calcutta, Mẹ Têrêxa xuống phố, đi đến chân cầu thang của một toà nhà đổ nát… ở đó, Mẹ thăm một cụ già sống lẻ loi, tăm tối. Mẹ ngạc nhiên hỏi, “Sao cụ không thắp đèn lên?”; cụ bảo, “Thắp đèn làm gì, có ai ghé thăm tôi đâu?”. Mẹ đốt đèn lên và nói, “Nếu mỗi ngày có người tới thăm cụ, cụ có hứa thắp đèn để đón họ không?”. Cụ nói, “Nếu có ai đến thăm tôi mỗi ngày, tôi sẽ thắp đèn đợi… người ấy”. Vậy là các Soeurs con cái Mẹ thay phiên nhau đến thăm cụ. Họ chăm sóc cụ, đem cho cụ những gì cần thiết… an ủi cụ, lắng nghe cụ mỗi ngày. Cho đến ngày sắp lìa đời, cụ nở một nụ cười thật tươi và nói, “Các chị không chỉ thắp lên ngọn đèn nơi xó xỉnh của tôi nhưng còn nhen lên… trong tâm hồn tôi… một ngọn lửa hy vọng”.
Trong sứ điệp gửi Đại hội Giới trẻ lần thứ XVII tại Toronto, Canada, từ ngày 23/7/2002 đến 28/7/2002, với chủ đề: “Anh em là muối đất, là ánh sáng trần gian” (Mt 5,13-14), Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nêu tên 10 vị thánh trẻ để làm gương mẫu cho giới trẻ thế giới. Đứng đầu danh sách là Thánh Anê của thành Rôma, tiếp đến là Á thánh Anrê Phú Yên của Giáo phận Qui Nhơn chúng ta. Cả hai vị này đều có những điểm rất giống nhau. Trước hết, cả Thánh Anê và Á thánh Anrê Phú Yên đều là những người trẻ còn ở độ “tuổi tin” (teenage), tức là dưới 20 tuổi. Cuộc tử đạo của hai vị cũng có những nét giống nhau đến kỳ lạ và cùng chứng tỏ một tình yêu tha thiết đối với Đức Kitô.
Theo khảo luận của Thánh Ambrôxiô giám mục, Thánh nữ Anê chưa đủ sức chịu nổi lưỡi đòng đâm thâu, thế mà lại có sức thắng được lưỡi đòng ấy. Chưa đủ sức chịu khổ mà đã thừa sức chiến thắng. Tuy chưa biết chết là gì, nhưng người thiếu nữ ấy đã sẵn sàng đưa thân ra đón lưỡi gươm của tên lính hung bạo. Tuổi đời còn non dại mà đã là bậc thầy về chí can trường. Tân nương vội vã tới loan phòng cũng không lẹ bằng người trinh nữ này vui vẻ tiến ra nơi hành quyết để được mau mắn gặp gỡ Đức Kitô. Mọi người đều khóc thương, nhưng chính cô thì không. Nhiều người lấy làm lạ vì thấy sao cô dễ dàng xả thân như thế; chưa được hưởng cuộc đời mà cô đã rộng rãi cho đi như là đã hoàn toàn mãn nguyện. Ai nấy đều kinh ngạc, vì ở tuổi đó các thiếu nữ chưa làm chủ được chính mình, thế mà cô đã có khả năng làm chứng cho Thiên Chúa. (x. Lễ Thánh Anê trinh nữ tử đạo, trong Kinh sách. Các bài đọc, quyển III, tr. 530-532).
Trong bản tường trình đầu tiên của Cha Đắc Lộ về cuộc tử đạo của Thầy giảng Anrê Phú Yên (01/08/1644), khi Cha hỏi thầy xem có điều gì làm cho thầy phải đau lòng không, thầy trả lời rằng thầy không có điều gì phải hối tiếc cả, tâm hồn thầy rất hài lòng đến nỗi lồng ngực như nổ tung ra vì sung sướng. Và thầy làm chứng cho những lời đó qua sự thanh thản của một nét mặt như thiên thần. Một thanh niên mới lớn đang tràn đầy sức sống mà không tiếc tuổi thanh xuân; tuy còn mang dáng dấp thư sinh chưa một lần chạm đến binh khí hay được tập luyện để làm chiến binh, thế mà có thể xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, như một vị tướng quân trên chiến trường trong truyền thống hào hùng của dân tộc. Dân chúng đến xem thật đông, cả giáo lẫn lương. Đặc biệt những người lương tỏ ra ngỡ ngàng khi thấy có người muốn chết vì đạo và vì chân lý, đó là một việc chưa từng có trong xứ sở của họ. Người ta điệu thầy ra pháp trường, nhưng trong lúc mọi người cảm thấy ái ngại cho thầy thì nét mặt của thầy lộ vẻ thanh thản vui tươi, bước chân của thầy nhanh nhẹn đến nỗi Cha Đắc Lộ và các tín hữu phải chạy theo và vất vả lắm mới theo kịp thầy. Khi đến pháp trường, thầy mau mắn quỳ xuống cầu nguyện, lớn tiếng khuyên bảo mọi người và sẵn sàng đón nhận cái chết. Thầy đã nhận lãnh 3 nhát giáo đâm và 1 nhát đao chém đầu trong khi miệng vẫn không ngừng kêu tên cực trong Giêsu với tất cả tâm tình yêu mến (x. Bản tường trình đầu tiên của Cha Đắc Lộ, trong Rực sáng một vì sao, Tìm về chân dung Á thánh Anrê Phú Yên (1625-1644), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2006, tr. 13-15).
Thái độ thanh thản của Á thánh Anrê Phú Yên trước cái chết phát xuất từ niềm xác tín vào tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu mạnh hơn sự chết hay bất cứ một sức mạnh phân ly nào khác, như lời Thánh Phaolô khẳng định trong Bài đọc II trích thư gửi giáo đoàn Rôma: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khó, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35. 38-39).
Nhưng chắc chắn điều làm cho Á thánh Anrê Phú Yên sẵn lòng đón nhận cái chết cách vui vẻ nhất chính là lời khẳng định và đồng thời cũng là lời hứa của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12, 25-26).
Hơn nữa, niềm vui tử đạo của Á thánh Anrê Phú Yên không chỉ phát sinh từ phần thưởng lớn lao mà bản thân thầy sẽ được hưởng theo lời hứa của Đức Kitô, nhưng còn do thầy biết rằng những giọt máu của thầy đổ ra sẽ là hạt giống phát sinh nhiều Kitô hữu khác, như lời Đức Kitô đã nói trước đó: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24). Đó là niềm vui của người đi gieo trong lệ sầu để rồi gặt hái trong hân hoan.
Niềm vui là nét đặc trưng của tuổi trẻ. Á thánh Anrê Phú Yên được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nêu lên như một mẫu gương của giới trẻ, vì thầy có một tâm hồn luôn vui tươi ngay cả khi phải chịu cực hình. Tuy nhiên, sở dĩ thầy có được niềm vui và sự thanh thản như thế là vì tâm hồn thầy không vẩn đục, nhưng trong sạch, thánh thiện và chiếu toả ánh sáng của Thiên Chúa.
Á thánh Anrê Phú Yên đã vui vẻ và thanh thản chịu cực hình và chịu chết vì đạo, nên bây giờ thầy đáng hưởng bình an và niềm vui thiên quốc, như lời sách Khôn Ngoan trong Bài đọc I: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa. Bọn ngu si coi họ như đã chết rồi; khi họ ra đi, chúng cho là họ gặp phải điều vô phúc. Lúc họ xa rời chúng ta, chúng tưởng là họ bị tiêu diệt, nhưng thật ra họ đang hưởng an bình” (Kn 3,1-3).
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất cả chúng ta, đặc biệt các anh chị em giảng viên giáo lý và các bạn trẻ, biết noi gương Á thánh Anrê Phú Yên, luôn sống trong sạch và thánh thiện, hết lòng yêu mến Đức Kitô và luôn gắn bó với Người, để tâm hồn chúng ta luôn được bình an, vui tươi và hạnh phúc ở đời này, và ngày sau được cùng với Á thánh Anrê vui hưởng niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu trên trời.
+ Gm. Matthêu Nguyễn Văn Khôi
Giám Mục Giáo phận Qui Nhơn
Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong dịp lễ phong Chân Phước cho thầy Anrê Phú Yên đã nói: “Cuộc sống của Anrê Phú Yên đã cho chúng ta thấy quyết tâm của một con người không chấp nhận chối bỏ niềm tin, dù phải đối đầu với bạo lực. Giới trẻ có thể rút ra sức mạnh và sự can trường từ tấm gương của con người sẵn sàng hy sinh mạng sống vì anh em mình. Chớ gì tất cả các môn đệ của Đức Kitô tìm thấy nơi vị Chân Phước trẻ này sức mạnh và sự nâng đỡ trong cơn thử thách!” 
“Ơi dòng máu nhuộm thắm đất anh hào
Ươm Nước Việt rạng ngời Danh Chí Thánh”
Ngày hôm nay, chúng ta không có được diễm phúc dâng hiến mạng sống của mình để làm chứng cho đức tin như Chân Phước Anrê Phú Yên, nhưng chúng ta còn có rất nhiều phương cách để làm chứng cho đức tin của mình.
Hôm Chúa Nhật 18/11, ngày Thế Giới Người Nghèo, Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Điều duy nhất chúng ta có thể mang theo là những gì chúng ta đã cho đi”. Bà goá đã cho đi hai đồng kẽm, những gì nuôi sống… như máu, như sự sống của bà. Cả chúng ta, với những đồng tiền liền khúc ruột… khi âm thầm cho đi để cộng tác vào công cuộc xây dựng Hội Thánh cách này cách khác… chúng ta cũng đang làm cho sự sống của Hội Thánh, sự sống của Chúa Kitô trường tồn vậy.
Một cô bé đứng khóc sùi sụt tại một góc nhà thờ sau khi chạy vòng vòng mà không vào được bên trong… vì đã chật cứng. “Con không vào được lớp giáo lý”, cô bé nức nở nói với Cha xứ vừa đi tới. Nhìn dáng bộ tiều tụy nhếch nhác của em, Cha xứ hiểu vấn đề… Cầm tay cô bé, ngài dẫn em vào, tìm cho em một chỗ trong lớp. Đêm hôm đó, cô bé đi ngủ mà đầu óc chỉ nghĩ tới những đứa trẻ không có chỗ để học giáo lý.
Khoảng hai năm sau, tại một chung cư tồi tàn, cô bé ấy chết. Cha mẹ em điện thoại cho vị Linh mục, người đã rất thân thiết với cô bé; ngài đến chủ trì nghi thức tẫm liệm. Khi bồng thi hài của em, một chiếc ví rách nát bẩn thỉu rơi xuống, trong đó có 57 xu và một tờ giấy nhăn nhúm với dòng chữ nguệch ngoạc, “Để giúp xây một nhà thờ lớn hơn hầu nhiều trẻ có thể đến lớp giáo lý ngày Chúa Nhật”; đó là kết quả trong hai năm trời dành dụm với cả tấm lòng của cô bé. Khi đọc những dòng này, vị Linh mục không cầm được nước mắt. Mang theo mảnh giấy và chiếc ví rách nát trong những buổi lễ, vị Linh mục kể cho mọi người câu chuyện tấm lòng đại lượng cao cả của em. Ngài ra sức quyên góp hầu xây dựng một nhà thờ rộng hơn.
Thế nhưng, câu chuyện không dừng lại ở đó. Một tờ báo đăng chuyện cô bé, và một nhà kinh doanh bất động sản đọc được. Ông ta nhượng bán cho nhà thờ một mảnh đất rộng trị giá nhiều ngàn đô la, với chỉ… 57 xu. Giáo hữu tiếp tục tổ chức một đợt quyên góp quy mô chưa từng có… và chưa đầy 5 năm, số tiền lên tới 250.000 đô la, một số tiền rất lớn cách đây một thế kỷ. Tấm lòng cao cả của cô bé đã được đền đáp: nhà thờ Temple Baptist sừng sửng giữa thành phố Philadelphia, sức chứa 3.300 người; Đại Học Temple, Bệnh Viện Good Samaritan cùng với một Nhà Giáo Lý… và đã không còn đứa trẻ nào trong vùng phải đứng bên ngoài nhà thờ vào ngày Chúa Nhật. Trong một căn phòng, người ta tìm thấy một bức ảnh với khuôn mặt dễ thương của cô bé, người với 57 xu và một tấm lòng… đã làm nên câu chuyện thần thoại; bên cạnh là bức ảnh của vị Linh mục năm xưa, Dr. Russell H.Conwell. Và chuyện kể: Ngày kia, một thiền sư và đám học trò dắt nhau đi lễ nửa đêm tại một đền thờ cổ kính toạ lạc giữa một khu rừng. Dân chúng lũ lượt kéo đến, ai nấy đều mang theo đuốc sáng tiến về đền thờ của Đấng Tối Cao. Với ánh đuốc, họ làm sáng rực thánh thất, cung điện và những vách tường chung quanh vốn nổi bật những hình tượng thiêng liêng. Sau buổi cử hành trang trọng, đám đồ đệ tấm tắc khen ngợi buổi lễ đầy ấn tượng, “Chúng con đã thấy sự hiện diện của Đấng Tối Cao”. Thiền sư mỉm cười và bảo, “Ánh đuốc và những bức tường đá đã đánh lừa chúng con. Một ngày nào đó, khi ánh đuốc chúng con thiêu rụi tất cả những bức tường của đền thờ, chúng con sẽ thấy Đấng Tối Cao”.
Một cái chuông chỉ thật sự là chuông khi được ngân lên; một bản nhạc chỉ thật sự là một tác phẩm khi được trình tấu; một Tin Mừng chỉ thật sự là tin vui khi được chia sẻ; một ngọn lửa chỉ thật sự là ngọn lửa khi nó được đốt lên.
Linh mục Teilhard de Chardin đã ví von rất sống động, “Ánh sáng xuyên qua những áng mây, người ta đoán là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người cũng đoán được có một Ai đó, có Ðức Kitô, có Thiên Chúa”.