Báo chí Quốc Ngữ của nhà in Làng Sông - Qui Nhơn: Lời thăm, học sĩ và tuổi xuân

Thứ tư - 14/10/2026 23:58


NỘI DUNG
 

1. Lời Thăm (1919 và 1922 đến 1943) 1
2. Học Sĩ (1927-1931) 7
3. Nguyệt san Tuổi Xuân (1934-1935) 8
KẾT


Trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, sự trỗi dậy của công nghệ in ấn và báo chí là chất xúc tác cốt lõi đưa chữ Quốc ngữ bước ra khỏi không gian tôn giáo ban đầu để trở thành chữ viết chung của toàn dân tộc. Nằm ở tâm điểm của cuộc chuyển mình lịch sử văn hóa đó tại dải đất miền Trung chính là Nhà in Làng Sông - Qui Nhơn. Suốt gần nửa thế kỷ hoạt động bền bỉ (1904–1946), cơ sở xuất bản này không chỉ khẳng định vị thế của một trung tâm in ấn quy mô với khối lượng di sản thư tịch đồ sộ, mà còn là chiếc nôi định hình diện mạo báo chí Công giáo đương thời. Các hệ thống thư mục như Lịch Địa Phận Quinhon (1928) hay Catalogue (1934) đã minh chứng cho một năng lực xuất bản đáng kinh ngạc, đạt từ 128 đến 196 tựa sách mỗi năm. Biên độ đề tài tại đây trải dài từ triết học - thần học, khoa học xã hội, văn học, kịch nghệ, truyện ngắn, du ký cho đến giáo dục khoa học ứng dụng. Nếu ở giai đoạn đầu, Nhà in Làng Sông góp công lớn trong việc đưa chữ Quốc ngữ đi sâu vào đời sống thường nhật qua các ấn phẩm kinh bổn, truyện dịch, hạnh các thánh; thì ở giai đoạn sau, phân khúc báo chí tại đây lại tạo nên những dấu ấn học thuật và lịch sử văn hóa đặc sắc, thúc đẩy việc tạo ra và ứng dụng hàng loạt thuật ngữ khoa học, xã hội, triết học mới bằng tiếng Việt. Ngoài các ấn phẩm báo chí tiếng Pháp, mảng báo chí Quốc ngữ như bán nguyệt san Lời Thăm có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhờ cơ chế phát hành toàn cõi Đông Dương, cùng tạp chí Học Sĩ và tờ Tuổi Xuân chính là những tư liệu tiêu biểu nhất. Đây là những lát cắt điển hình phản ánh sinh động diện mạo báo chí Công giáo cũng như tiến trình phổ biến và phát triển của chữ Quốc ngữ tại miền Trung nói riêng và Việt Nam nói chung vào đầu thế kỷ XX.
 

1. Lời Thăm (1919 và 1922 đến 1943)

“Thật thú vị khi nói rằng báo chí chưa hiện hữu ở Việt Nam trước khi người Pháp đặt chân đến. Tin tức được phổ biến trong xã hội ngày xưa nhờ các phương tiện hết sức thô sơ: ở mức độ quốc gia, những người đưa tin đặc biệt được nhà vua sai gởi đi các chỉ dụ; ở mức độ địa phương thì dân làng được thông tin qua các thông báo dán ở đình làng hay  qua các mõ làng. Không có phương tiện thông tin đại chúng vì thiếu kỹ thuật in ấn mạnh và nhanh chóng. Mãi cho đến thời thuộc địa Pháp, các ấn bản vẫn được in mộc bản, một kỹ thuật vừa thủ công vừa tốn kém.”[1]

Lịch sử báo chí Việt Nam bắt đầu từ bao giờ? “Dĩ nhiên ngày khai sinh của báo chí vẫn phải là theo các quan niệm cũ (1865). Sau thời kỳ phôi thai, báo chí Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi một biến cố lịch sử vĩ đại có liên quan đến vận mệnh toàn thể dân tộc. Đó là Hòa ước 1884 hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre qui định việc đặt Việt Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp. Theo các tài liệu được sưu khảo, báo chí xứ ta bước một bước lớn nhờ biến cố vĩ đại này. Hòa Ước 1884 đã đem lại sự phẫn nộ cho Triều Đình Huế cũng như các nhà ái quốc Việt Nam. Và chính sự phẫn nộ đó đã được biểu lộ một cách kín đáo trên báo chí, đến nỗi nhà cầm quyền Pháp phải dành những tờ báo của họ để đánh lạc hướng niềm công phẫn nói trên. Theo lịch sử đất nước, ta có thể nói rằng chính biến cố 1884 đã ghi cái mốc đầu trong tiến trình “bán ý thức” của báo chí”.[2]

Là một sản phẩm du nhập, báo chí quốc ngữ thời kỳ phôi thai này cũng có những đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển chữ Quốc ngữ và văn chương Việt Nam: “Ý tưởng về nhật báo được phương Tây đưa vào Việt Nam và báo chí là một thể loại văn chương có thể nói là đã phát triển cùng với sự thiết lập nền cai trị của thực dân Pháp. Báo chí Việt Nam đã theo khuôn mẫu báo Pháp được xuất bản ở Đông Dương, nhưng cũng có những nét khởi đầu đặc sắc như mục “Văn uyển” và các bài dịch các tác phẩm văn chương từ tiếng Pháp và Hán sang tiếng Việt. Báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ biến và phát triển chữ Quốc ngữ cũng như đóng góp phần lớn trong việc hình thành ngôn ngữ và văn chương Việt Nam hiện đại”.[3]

Cùng với việc phổ biến chữ Quốc ngữ, báo chí Quốc văn bắt đầu xuất hiện dựa theo khuôn mẫu của phương Tây mà ban đầu chỉ có một quyền lực rất yếu, chưa được hoàn toàn tự do để trở nên một thứ quyền lực chỉ đứng sau quyền lực của nhân dân. “Một chính trị gia Pháp đã nói: “Một tờ báo, một ngòi bút, đó là đòn bẫy có sức mạnh kinh khủng”. Và một chủ bút một tờ báo đã chỉ chiếc ghế ngồi của mình: “Chiếc ghế này đáng giá ba ngai vàng”. Đấy là vài lời người ta đánh giá quyền quyết định của báo chí trong các xứ văn minh, về một nền báo chí toàn quyền nêu ý kiến, khuấy đảo đám đông, ủng hộ hay hạ bệ các bộ trưởng theo ý muốn và Chính phủ phải để tâm đến. Nhưng trong xứ chúng ta và vì những lý do khác nhau, thay vì có quyền lực chúa tể, báo chí chỉ có vai trò phụ thuộc: thường là thông tin, đôi khi có tính giáo dục, phản kháng lại càng hiếm hơn, nghĩa là hoàn toàn có tính chờ đợi. Có hai sự kiện giải thích cho tình trạng yếu kém này: 1/ Sự hiện diện mới mẻ. Báo chí Đông Dương chúng ta không thể một sớm một chiều mà có được đặc quyền như báo chí Pháp quốc đã có hơn 100 năm chinh phục, sau khi vấp phải đủ mọi chướng ngại, đặc biệt là những luật gian ác của bộ trưởng Villèle. 2/ Phạm vi nhỏ hẹp”.[4] Một nền báo chí tự do rất cần thiết để có thể nói lên chính kiến của người dân, nhưng điều quan trọng hơn cả là phải làm sao có được nó, và muốn có thì phải đòi hỏi. “Tự do báo chí có thể tốt và có thể xấu, tuy nhiên, hầu như chắc chắn rằng nếu không có tự do thì báo chí chẳng là gì cả ngoại trừ là xấu mà thôi” (Albert Camus).

Và như đã nói ở trên, ngày khai sinh báo chí Quốc ngữ được ghi nhận với tờ báo đầu tiên là Gia Định báo của Trương Vĩnh Ký, phát hành năm 1865. Tuy nhiên, có vài vấn đề cần phải làm rõ. Sau khi Trương Vĩnh Ký trở về nước vào năm 1865, Chuẩn đô đốc Roze, khi ấy đang tạm quyền Thống đốc Nam Kỳ, đã mời ông ra làm quan. “Trương Vĩnh Ký từ chối và xin lập một tờ báo quốc văn đề là Gia Định Báo. Gia Định Báo là thủy tổ báo chí quốc ngữ ở xứ ta. Nghị định cho phép báo ra đời được ký ngày 1-4-1865, mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux, thông ngôn của chính phủ Nam Kỳ. Mãi tới 16-9-1869 mới có nghị định của Thủy sư Đô Đốc Ohier giao hẳn tờ báo đó cho Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Ký là ông tổ nghề báo quốc văn ở xứ ta. Từ khi được Trương Vĩnh Ký trông nom, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, nội dung tờ báo bớt khô khan và thêm phần phong phú: có bài khảo cứu, nghị luận, có mục sưu tầm tục ngữ ca dao, thi ca và cổ tích”.[5]

Sự xuất hiện từ rất sớm của “Gia Định báo”, tờ báo Quốc văn đầu tiên của Việt Nam, ở Nam kỳ cũng là điều dễ hiểu. Trước hết, Nam kỳ là xứ thuộc địa (colonie) do thực dân Pháp cai trị nên phần nào đó cũng dễ dàng theo khuôn mẫu văn minh của Pháp, còn Trung kỳ và Bắc kỳ là hai xứ bảo hộ (protectorats), trên danh nghĩa thuộc vua nhà Nguyễn. Thứ đến, Quốc ngữ đã được phổ biến rộng rãi ở Nam kỳ vì người dân ở đây không sùng bái chữ Hán, chữ Nho như ở Bắc kỳ và Trung kỳ. Ở Nam kỳ, “Việc sử dụng chữ viết mới được phổ biến cách nhanh chóng nhờ các văn nhân Công giáo như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, những người đã đóng góp hiệu quả cho việc phổ biến nhờ những xuất bản của họ bằng Quốc ngữ. Thật vậy người Việt ở Nam kỳ không thấm nhuần văn hóa Trung Hoa như những đồng bào ở miền Bắc và miền Trung nên họ sẵn sàng từ bỏ thứ chữ Hán cổ điển để học Quốc ngữ và chữ Pháp.[6]

Riêng Trung kỳ, tờ “Tiếng dân” của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Quảng Nam được cho là tờ báo đầu tiên, giấy phép xuất bản do Toàn quyền Pasquier ký ngày 12/2/1927. Tuy nhiên, thời điểm này vẫn có khoảng cách khá xa so với tờ “Lời Thăm” của địa phận Qui Nhơn, xuất bản số đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 1922, và hẳn còn xa hơn nữa nếu tính đến tiền thân của “Lời Thăm”, tức là tờ “Lời thăm các thầy giảng”, phát hành số báo đầu tiên ngày 20/9/1919.[7]

Câu chuyện “Lời Thăm” bắt đầu với sáng kiến của cha Perreaux. “Năm 1919 cha Perreaux đi lính bên Tây mới về Đức cha Grangeon cử cha làm bề trên Hội Thầy Giảng; cha nghĩ các thầy thì đông mà ở tản tác trong sáu bảy tỉnh rất khó mà hội hiệp để dạy bảo khuyên răn cùng thông tin tức các sở cho nhau; cha liền lập ra một cơ quan để cho các thầy giảng được thông công cùng nhau và được nghe lời cha dạy bảo răn khuyên. Cơ quan ấy là “Lời thăm các thầy giảng”. Lúc Lời Thăm các thầy giảng mới ra đời thì chỉ thăm các thầy mà thôi, lần lần lại đến thăm các Đứng linh mục trong địa phận, rồi lại thăm đến các nhà giáo hữu; lần lần đến thăm các địa phận xung quanh, thăm cả các bạn lương giáo; sau lại đến thăm cả xứ Đông pháp, đến cả các nước láng giềng. Thế là Lời Thăm các thầy giảng bành trướng ra rất chóng; và bởi đi thăm đủ người trong các giới nên phải mất ba tiếng sau, chỉ còn Lời Thăm không mà thôi”.[8]

Kể từ tháng 1 năm 1922, tập “Lời thăm các thầy giảng” được cải tiến và phát hành số đầu tiên dưới tên gọi “Lời Thăm”. Thay vào đó, các thầy giảng vẫn có một cơ quan thông tin khác của riêng mình là tập “Thơ tín vãng lai”, do cha Thiềng phụ trách phần biên tập. “Tập “Lời thăm các thầy giảng” xưa lập ra cho các Thầy giảng địa phận ta đây; mà nay ra khác; những tin nhỏ mọn về mỗi thầy, không lẽ in vào đó mà phát cho thiên hạ. Nên ta (Đức cha Grangeon) nhứt định in lại tập khác nhỏ riêng cho các Thầy địa phận ta, và phát ra mỗi tháng một kỳ, hiệu là Thơ tín vãng lai. Vậy các cha các thầy gặp được gì hữu ích, như việc dạy chầu nhưng, bao đồng; kẻ ngoại trở lại đạo; rửa tội cho con trẻ ngoại giáo khi mong sinh thì v.v. thì hãy viết, gởi cho cha Thiềng ở trường Đại An, đặng người soạn lại mà gởi cho ta giao nhà in”.[9]

Ban đầu, từ số 1 tháng Janvier 1922, “Lời Thăm” là nguyệt san mỗi tháng 1 kỳ. Nhưng từ số 25, ngày 1 Janvier 1924, tờ báo được phát hành một tháng 2 kỳ, là bán nguyệt san, theo ý muốn của các Đại diện tông tòa họp tại Sàigòn tháng 6 năm 1935. Vì thế giá báo cũng tăng lên: “Tất cả các cha trong địa phận đều đã biết rằng tờ báo “Lời Thăm” từ nay trở đi xuất bản hai kỳ một tháng, với 40 trang in, nghĩa là thêm 200 trang mỗi năm. Lý do đầu tiên cho sự cải tiến này là hy vọng đem lại nhiều điều bổ ích qua việc phân phối rộng rãi hơn, nhưng cũng bởi vì để đáp ứng lại lòng mong muốn đồng nhất của các Đại diện tông tòa tại Đông Dương họp tại Sàigòn vào tháng Sáu vừa qua. Không khó để mọi người hiểu rằng phát triển như vậy thì buộc phải tăng giá đặt mua báo lên 50 xu; đây là con số tối thiểu cần thiết để sống và duy trì và ngay cả phát triển theo nhu cầu của mình, ngay cả đối với công việc của chúng ta là hoàn toàn có tính cách nhiệt tình và tông đồ.”[10] Và chỉ bốn năm sau, sau số 19 phát hành ngày 1 tháng 10 năm 1939, bán nguyệt san Lời Thăm đã trở thành tuần san với số 20 tháng 10 năm 1939, phát hành ngày thứ Năm hàng tuần.

“Ngày nay “Lời Thăm” sở dĩ có tên tuổi trong làng báo; cái công nghiệp ấy là của cha sáng lập, cái tài thao lược lịch lãm của vị tổng lý, cái tài nhả ngọc phun châu văn chương cẩm tú của ông chủ bút và tòa soạn “Lời Thăm”“.[11] Ngoài những cây bút “cây nhà lá vườn”, “Lời Thăm” còn nhận được sự cộng tác của tác giả quen thuộc khắp ba miền, chẳng hạn Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn ở Huế, ông Đoàn Độc Thư ở miền Bắc và ông Jacques Lê Văn Đức miền Nam và nhiều cây viết khác nữa … Tất cả đều cùng một mục đích là “truy cho ra điều chân chính để làm phương châm dìu dắt đồng bang ta lên tới tuyệt đỉnh văn minh”, bởi vì sau một thời gian dài chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nay dân đất Việt mong muốn “thoát Trung”, thoát khỏi lối văn minh cũ rích, ù lì và câu nệ này: “Ôi! Ngán thay! Quốc dân ta bước phải một bước hẩm hiu: hơn 10 thế kỷ say ngủ dưới một bóng cây cổ thụ khô héo; nhập nhiễm những cái hủ tục, hô hấp phải luồng không khí mê hoặc dị đoan, ảnh hưởng phải lối văn minh cũ rích, ù lì và câu nệ! Thành ra mình cũng cùng người đội chung một trời đạp chung một đất, mà người đã thoát khỏi vòng nô lệ những thói tục dã man, đã theo đuổi kịp những thuần phong mỹ tục tiến lên hầu tới chót đỉnh văn minh; mà mình còn đang lẩn quẩn lần mò dưới đáy vực thẳm sâu tối mù tối mịt!”[12]

Để có thể tồn tại và hạ giá thành nhằm phổ biến rộng rãi hơn, báo “Lời Thăm” còn nhận quảng cáo. “Giá lời rao (annonces): cả trang 10$ - nửa trang 6$ - ¼ trang 4$ - 1/8 trang 3$ - 1/16 trang 2$ - Còn muốn rao trót năm, xin gởi thư hỏi giá bao nhiêu”. Và các thương hiệu thường xuyên được quảng cáo là: hãng xe hơi Garage Bonnard; Magasin de soie Au Printemps Cochinchinois, 80 Blv. Charner, Saigon; Thuốc “Nam Hồng tể”, n. 6 Rue Jean Monlau, Saigon; Thuốc hút hiệu JOB; Dầu Cù Là của nhà thuốc Nguyễn Văn Tri; Hotel de la Concorde, Quinhơn; Lò ngói Vàm Cỏ Đông, Chợ Lớn; Sữa Nestlé hiệu Con chim; Bác sĩ Trương Đình Ngô, 49 đường Jules Ferry, Qui Nhơn; Thuốc Bác sĩ Tín, 10-12 Boulevard Odend’hal, 54 Av. Gia Long, Qui Nhơn… Và báo Lời Thăm được phát hành rộng rãi qua các bưu cục khắp Đông Dương, rất thuận tiện: “Khi đổi chỗ thì phải cho biết: trước ở đâu, bây giờ ở đâu. Có cách rất tiện là muốn mua báo Lời Thăm hoặc trả tiền, cứ tới Nhà thơ (dây thép, bưu điện) đóng tiền, lãnh biên lai không cần phải thơ từ gì mất công. Trong khắp Đông Pháp, nhà thơ nào cũng được. Nếu nhà thơ nào không nhận lãnh cách nói trên thì xin cho Chủ nhiệm Lời Thăm biết tên nhà thơ ấy” (Circulaire No 47 B du 22 Décembre 1931).

Đồng thời với lịch của địa phận, Lời Thăm cũng xuất bản lịch của riêng mình gọi là “Lịch Lời Thăm”. Chẳng hạn Lịch Lời Thăm năm 1931: “Mỗi cuốn chừng 150 trang, in giấy theo cỡ giấy báo Lời Thăm. Mới xuất bản và bán tại nhà in Quinhơn. Giá mỗi cuốn 0p.30 –Franco: 0p.41 – Recommandé: 0p.51. Sách nầy có in lịch để xem mỗi ngày trong năm 1931; những bài thuyết luận, nhiều chuyện tiểu thuyết; những câu phương ngôn; những chuyện phong kỳ; những điều nên biết; những chuyện giải trí v.v. Lại có thêm nhiều bóng hình in riêng vào giấy láng tốt”.[13]

Năm 1931, cha Maheu qua đời tại Pháp, cha Perreaux được chấp nhận thay thế làm Tổng lý báo Lời Thăm. “Hồi 9 giờ sáng 30-4, Hội đồng Chính phủ ban thường trực họp hội đồng, có xét bản dự định thay đổi đạo nghị định ngày 6 Décembre 1930 về việc thu giấy phép bà Nguyễn Đức Nhuận ra báo Phụ nữ tân văn. Thế thì tờ báo này lại sắp được xuất bản chăng? Dự thảo nghị định cho phép ông Nguyễn Công Tiễu xuất bản một tờ tạp chí, nhan đề là Khoa học tạp chí. Và M. Phạm Ngọc Vinh xuất bản một tờ tạp chí nhan đề là Từ bi am, cho phép cố Perreaux thay cố Maheu mới tạ thế làm tổng lý tạp chí Lời Thăm. Cấm mấy tờ báo chữ Nho: Kiao-king-Yue-Kan ấn hành ở Quảng Đông, Lui-Hing Tsa-Tche xuất bản ở Thượng Hải, Tchong-Yan-Tcheon-Pao xuất bản ở Nam Kinh không được lưu hành và tàng trữ ở Đông Dương”.[14]  Năm 1934, cha Pierre Huy thay thế cho cha Perreaux vì lý do sức khỏe. “Bởi nghị định ngày 31 tháng 3 năm 1934, cho phép ông Đào Thiên Thủy xuất bản tờ tuần báo bằng Quốc ngữ “Hải Phòng Tuần Báo”. Nghị định cho phép ông Pierre Huy, linh mục bản xứ ở Qui Nhơn, thay thế cha Perreaux làm quản lý báo “Lời Thăm”. Nghị định cho phép ông Bùi Văn Còn, thương gia ở Sàigòn, xuất bản ở Đông Dương tờ tuần báo bẳng Quốc ngữ “Kịch Bóng” (Ciné-Théâtre)…”[15]

Trong bài viết tổng hợp tình hình “Báo chí ở nước ta” của tờ Phụ Nữ Tân Văn, Số 231, 11 Tháng Giêng 1934, tác giả đã thử đánh giá hiện tình báo chí của cả nước qua con số vì “cứ tính số báo chí mà đo được trình độ văn minh vậy”.  “Muốn biết một nước học thức khuếch trương mà bởi đó văn minh tiến bộ - theo cái thiển ý của tôi, tưởng cứ xem sách vở báo chí xuất bản hằng ngày. Như nước Pháp chẳng hạn, đã được liệt vào hạng các cường quốc văn minh nhất thế giới, thì nội kinh thành Paris kể có hơn 100 nhật báo. Tại nước Đức năm 1926 tính được 3.812 nhật báo, và 4.309 tuần báo. Tại Hoa Kỳ 2.400 báo chí … Nước Nam ta tuy vào buổi bán khai, thế mà cũng đã biết đua nhau vùng dậy khỏi giấc mơ mộng ngàn năm, cũng đã tận tâm khuếch trương về việc xuất bản báo chí. Thấy thế tôi đã cố công sưu tầm cho hết báo chí, không được chính tờ báo mà đọc mà hưởng, nhưng ít ra cũng biết được cái “tên” của nó, từ buổi sơ khai cho đến ngày rày”. Và trong một bản danh sách dài, tác giả đã liệt kê được 155 tờ báo vào năm 1931, trong đó có tờ Lời Thăm.

Riêng về phần báo chí Công giáo, trong “Dự thảo mục lục báo chí Công giáo Việt Nam”, Hành trình 100 năm báo chí Công giáo Việt Nam, tác giả Lê Đình Bảng đã xếp tờ Mémorial, Mission de Quinhon ở vị trí thứ 8 khi cho rằng năm phát hành số đầu tiên là 1927 (tr. 149). Vị trí thứ 1 thuộc về tờ Nam kỳ địa phận, phát hành năm 1908 (tr. 143). Tuy nhiên, ấn phẩm có thể xếp vào thể loại “báo chí” đầu tiên của địa phận Qui Nhơn là tờ Mémorial, Mission de Qui Nhơn, được phát hành từ năm 1904, tức là ngay khi nhà in Làng Sông được cha Maheu tái lập năm 1904. Niên đại này được xác nhận trong thống kê của Henri Cordier, Bibliotheca indosinica, Dictionnaire bibliographique des ouvrages relatifs à la péninsule indochinoise, Vol. III. - 1914, tr. 1938. Cũng trong “mục lục” này, tờ Lời thăm các thầy giảng được xếp thứ 5 (tr. 146) với năm phát hành là 1921, trong khi thực tế số đầu tiên phát hành ngày 20/9/1919.

Suốt thời gian hiện diện, cũng như tất cả những tờ báo khác, Lời Thăm sống còn nhờ số độc giả của mình và có lúc phải lao đao vì số độc giả suy giảm. “Buổi đầu, cha Maheu mới khoáng trương, thời khá thạnh. Bạn đọc kể có đôi ba ngàn. Thạnh suy đắp đổi, năm 1928, cha Maheu phụng mạng đứng lập sở phung Qui Hòa, mà Lời Thăm sang tay khác, thì số độc giả sút lần, rồi cứ sút mãi, cho đến nỗi tưởng đã đi đời. Một bước nguy nữa! May có Đức cha Tardieu, ngài quyết bảo tồn không để chết, mà rằng: Một cơ quan truyền bá ý tưởng Công giáo, dẫu trót năm làm ích cho một người mà thôi, cũng chưa đến nỗi hoài công. Sống cam khổ, cũng cứ ráng sống chờ ngày thái lai”.[16] Nhưng rồi chiến tranh xảy ra và buộc chúng ta phải hy sinh nhiều thứ, ngay cả những gì tâm huyết nhất: tờ Lời Thăm đình bản vào năm 1943.

2. Học Sĩ (1927-1931)
 


Học Sĩ là phần phụ thêm, “Phần riêng dành cho thanh niên” của báo Lời Thăm dành cho giới trẻ được in ở cuối mỗi số tạp chí Lời Thăm từ năm 1927, nhưng sau vì yêu cầu của độc giả nên phần này được in thành tập riêng để các phụ huynh có thể mua cho con em mình đọc, hay như phần thưởng để phát cho trẻ em trong trường. Phần này “đăng những bài rõ ràng dễ hiểu để cho trẻ ấu nhi đọc lấy mà tập bước lần đến những điều khó hơn”.

Tập “Học sĩ”, số 1, phát hành vào tháng 5 năm 1927, gồm các nội dung thuộc mọi thể loại hợp với trình độ của học sinh: Tên Phi-kê, là thợ bay đầu hết; Gốc tích quê tôi làm sao?; Nói phỉnh; Mặt trái đất là bằng phẳng; Ba người thiết nghĩa; Con chuột vàng; Bài toán đố rẻ; Cho những người có tính nhịn; Thương em chẳng quản chông gai; Khuyên con học; Phép bác vật vui; Phải kiếm thử; Xứ Đông – pháp ta; Ông thánh Luy quan thầy thanh niên; Làm bộ đồ chơi rẻ tiền; Chớ xấc xược mà phải khôn; Vẽ luôn một nét; Tên mọi giỏi giắn.

Xin trích dẫn nội dung ngắn của “Bài toán đố rẻ” để ta có thể hình dung được phần nào nội dung của tờ báo dành riêng cho thanh niên này: “Thằng ăn trộm chạy trốn, một ngày đi 8 dặm luôn. Lính “sơn-đàm” theo bắt, ngày đầu đi 3 dặm, ngày sau đi 5 dặm, ngày thức ba 7 dặm, và mỗi ngày đi thêm lên 2 dặm. Hỏi mấy ngày ông “sơn-đàm” theo kịp tên ăn trộm và mỗi người đi bao nhiêu? (số sau sẽ giải)”

Sau một thời gian góp mặt, khoảng năm 1931 thì tờ Học Sĩ đình bản, chỉnh đốn cho hoàn thiện để rồi tái xuất năm 1934 với một tên gọi mới: Tuổi Xuân (La Jeunesse).

3. Nguyệt san Tuổi Xuân (1934-1935)

Đầu năm 1934, Nhà in Qui Nhơn lại phát hành một tờ tạp chí mới dành cho giới trẻ “Tại nhà in Quinhơn mới xuất bản thêm một tờ nguyệt báo, tên là Tuổi Xuân. Độc giả chư tôn thế cũng còn nhớ; trước hai năm nay mỗi tháng trên báo Lời Thăm có một phần phụ thêm kêu là Học Sĩ, dành riêng cho thanh niên. Phần thêm ấy vắng mặt mấy năm để chỉnh đốn cho hoàn toàn, nay thành một tờ tạp chí biệt lập, lại ra chào đời. Tuổi Xuân mỗi tháng một kỳ, giá đồng niên 1$, có nhiều hình giúp vui, bài vỡ lựa kỹ, văn thể đơn sơ vừa với tuổi thơ sanh”.[17]

“Mới in số đầu trong tháng Janvier 1934 nầy. Báo nầy in làm một tập khổ rộng cũng như Lời Thăm, hết thảy là 16 trương, có chừng 40 bức hình. Có ý để cho con nít từ 6-7 tuổi đến 12-13 tuổi. Trong tập báo nầy nói những điều có ích cho con nít, những chuyện vui, những cách chơi, những bài đố để mở trí v.v. Mua báo một năm thì sẽ kể từ mồng 1 Janvier và phải trả tiền trước. Ai xin thì sẽ gởi không cho số 1 cho coi thử. Người nào mua báo một năm, hễ mua 5 số (5$00) thì được thêm một số nữa là 6; mua 10 số (10$00) thì được thêm 3 số nữa là 13. Nầy cho khỏi giành giựt rầy rà nhau vì nhiều con, thì mua năm mà mua được 2 số sấp lên (2 abonnements) thì mỗi số chỉ bán 0$60 mà thôi.”[18]

“Tuổi Xuân, số 2, tháng Février 1934, nhơn dịp Tết, xuất bản 32 trang, có 62 bản hình. Mà giá cũng (0$10) mười xu”. Góp mặt không được bao lâu, tờ Tuổi Xuân phải đình bản vào khoảng tháng 7 năm 1935 sau hơn một năm hoạt động. Tờ Lời Thăm thông báo đình bản và không nói rõ lý do, chỉ có một lời rao nhỏ bán những tập đóng trọn bộ 18 số : “Tạp chí Tuổi Xuân phải đình bản. Bổn báo muốn giúp ích mua vui cho các em, nên đã thâu góp lại được ít chục số trọn bộ: là từ số khởi đầu cho đến số sau hết. cả thảy là 18 số, dày hơn 300 trang đóng chung thành một cuốn sách, dán bìa rất đẹp. Giá mổi quyển 0$30 – franco 0$45. Giá nầy hạn đến ngày 20 Juillet 1935, thì không còn bán giá ấy nữa”

KẾT

Sự nở rộ của các ấn phẩm định kỳ như Lời Thăm, Học Sĩ hay Tuổi Xuân của Nhà in Làng Sông – Qui Nhơn đánh dấu bước chuyển dịch mang tính chiến lược: Từ mảng sách kinh bổn, sách tôn giáo có tính hạn chế sang một không gian báo chí đại chúng đa sắc màu, vượt ra ngoài biên giới địa phận và quốc gia. Sự tiếp hợp nhịp nhàng này đã khẳng định vị thế của nhà in trong tiến trình hiện đại hóa chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, chúng ta không thể không nhìn lại thực trạng bảo tồn cũng như số phận thăng trầm của các nguồn tư liệu quý giá này qua biến thiên của lịch sử.

Điều đáng tiếc là qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc, di tích Nhà in tại Tiểu chủng viện Làng Sông hiện nay, thuộc Giáo phận Qui Nhơn, chỉ còn rất ít đầu sách được trưng bày, hầu hết là các bản sao lưu (photo). Trái lại, Thư viện Quốc gia Pháp François-Mitterrand (Bibliothèque nationale de France – BnF) chính là “kho báu” lưu trữ lớn nhất thế giới về các di sản thư tịch cổ của Việt Nam giai đoạn thuộc địa, đặc biệt là các ấn phẩm của Nhà in Làng Sông. Điều này có được là nhờ cơ chế lưu chiểu bắt buộc (Dépôt légal): Thời kỳ Pháp thuộc, mọi ấn phẩm xuất bản tại Đông Dương (bao gồm sách, báo của Nhà in Làng Sông) đều phải nộp một số bản sao về Phủ Toàn quyền Đông Dương và gửi thẳng sang chính quốc để lưu trữ tại thư viện này. Một số tác phẩm đã được số hóa dưới dạng PDF trên hệ thống thư viện số Gallica của BnF. Bán nguyệt san Lời Thăm dù được lưu giữ đầy đủ các số tại Thư viện Quốc gia Pháp nhưng chỉ cho phép độc giả tra cứu tại chỗ (consultable sur place). Tại Việt Nam, các ấn phẩm của nhà in được lưu giữ phân tán khi Thư viện Quốc gia Hà Nội có một số đầu sách (khoảng hơn 200 tựa sách), còn các số báo Lời Thăm đang được gìn giữ tại Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Những tư liệu quý giá này sở hữu giá trị kép: Một mặt tái hiện sinh động bức tranh báo chí giai đoạn đầu thế kỷ XX; mặt khác, minh chứng cho tiến trình hoàn thiện của tiếng Việt hiện đại trên cả phương diện quy chuẩn chính tả lẫn tư duy ngôn ngữ qua các thể loại văn học du nhập vẫn còn khá mới mẻ. Di sản báo chí Quốc ngữ của Nhà in Làng Sông – Qui Nhơn vì thế xứng đáng được trân trọng, gìn giữ và tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Đây chính là một gạch nối lịch sử, một chương không thể tách rời trong dòng chảy văn hóa và báo chí nước nhà.

(Trích từ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính, “Cảo thơm lần giở: Tản mạn về truyền thống báo chí, in ấn và xuất bản của Giáo phận Qui Nhơn”, trong Nối vạch thời gian, Tủ sách Nước Mặn, 2020, tr. 51-62)

(Bài viết của buổi tọa đàm "Nước Mặn và Chữ Quốc Ngữ qua dòng thời gian" tại Giáo phận Qui Nhơn, ngày 29/9/2026).


[1] Thu Hang Le, “Le Viêt Nam, un pays francophone atypique : regard sur l’emprise française sur l’évolution littéraire et journalistique au Viêt Nam depuis la première moitié du XXe siècle”, Documents pour l’histoire du français langue étrangère ou seconde. 40/41 | 2008.

[2] Nguyễn Viết Chước, Lược sử báo chí Việt Nam, 1974, Nam Sơn.

[3] Nguyễn Thế Anh, “Vietnam”, trong Patricia Herbert, Anthony Crothers Milner, South-East Asia: Languages and Literatures: a Select Guide, University of Hawaii Press, tr. 82-83.

[4] Bich Thuy, “La presse annamite en Indochine”, trong Le Colon français républicain, 2 février 1929.

[5] Nguyễn Khánh Đàm, Lịch trình tiến hóa sách báo quốc ngữ, Sài Gòn, 1942.

[6] Nguyễn Thế Anh, “Introduction à la connaissance de la Pénisule Indochinoise: Le Vietnam”, trong tạp chí Dòng Việt, California, 1993, tr. 125.

[7] Mémorial, Mission de Quinhon, số 154, 26 Septembre 1919, tr. 124.

[8] Lời Thăm, 15 Juillet 1935, tr. 209.

[9] Mémorial, Mission de Quinhon, Septembre 1923, tr. 199.

[10] Mémorial, Mission de Quinhon, No 30, Décembre 1923, tr. 243

[11] Lời Thăm, 1 Janvier 1937.

[12] Minh Tâm, “Quốc dân ta đối với tờ “Lời Thăm”, Lời Thăm, số 202, 15 Mai 1931.

[13] L’Écho annamite, 27 Décembre 1930.

[14] Trung hòa nhật báo, Số 1042, 5 Tháng Năm 1931.

[15] Avenir du Tonkin, 8 Aout 1935.

[16] Lời Thăm,  số4-5, 1943, 452

[17] Lời Thăm, 1 Février 1934, tr. 46

[18] Catalogue, Imprimerie de Quinhon, 1934,

 

 

Tác giả: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check