
NỘI DUNG
Nguyễn Thanh Quang
Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Gia Lai
Ngày 13.01.2016, tại thành phố Quy Nhơn, UBND tỉnh Bình Định phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Hội Ngôn ngữ học thành phố Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, tổ chức Hội thảo “Bình Định với chữ Quốc ngữ”. GS Phan Huy Lê chủ trì Hội thảo, đã tổng kết: “... Trên cơ sở những chứng cứ hiện nay, có thể kết luận, chữ Quốc ngữ trong trạng thái phôi thai, ra đời sớm nhất ở ba trung tâm: Nước Mặn, Hội An và Dinh Chiêm, trong đó Nước Mặn có phần sớm hơn”[1]... Với tổng kết này, đã khiến một số người hoang mang khi nói: Nước Mặn là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ...
GS Phan Huy Lê lập luận: “Sự ra đời của chữ Quốc ngữ là sản phẩm của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây mà cụ thể là giữa tiếng Việt với chữ cái Latin... Đó là một quá trình, một hiện tượng xã hội mang tính cộng đồng, diễn ra từ từ ở nhiều nơi, nhiều lúc với sự tham dự của nhiều người. Chỉ đến khi chữ Quốc ngữ xuất hiện và được ghi lại trên một số văn bản thì mới hình dung được những sản phẩm đầu tiên trong buổi sơ khai... Trên quan điểm như vậy, tôi nghĩ rằng trong buổi đầu, nhiều giáo sĩ Dòng Tên, đi tiên phong là người Bồ, người Ý, đã tham gia vào quá trình Latin hóa chữ viết của người Việt, để lại những chữ Quốc ngữ đầu tiên. Ba trung tâm đã góp phần vào quá trình này là Nước Mặn Hội An, Dinh Chiêm... Nếu xem xét sâu hơn về những chứng cứ văn bản có chữ Quốc ngữ thì trong ba trung tâm đó, trung tâm Nước Mặn có phần sớm hơn...”[2]. Theo chúng tôi, đây là cách nói khá dè dặt của một GS đầu ngành, và cuối cùng kết luận: Nước Mặn có phần sớm hơn.
Để xác định nơi phôi thai ra đời chữ Quốc ngữ ở đâu, chúng ta cần xem xét hai yếu tố: Một là, các thừa sai Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong truyền đạo như thế nào, ở đâu? Hai là, những chữ Quốc ngữ sơ khai đầu tiên xuất hiện ở đâu, thời điểm nào? Nhân Hội thảo này, chúng tôi xin phép bàn luận thêm lần nữa.
I. Ba cư sở truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên: Cư sở Nước Mặn (1618), cư sở Hội An (1619), cư sở Dinh Chiêm (1625).
Phái đoàn của Buzomi tới Đàng Trong ngày 18.01.1615[3]. Ở đây, cộng đoàn Nhật Bản đã hình thành, Linh mục Buzomi và Linh mục Cavalho dùng tiếng Nhật chăm sóc giáo dân Nhật kiều. Năm 1616, Đàng Trong bị mất mùa vì hạn hán. Người dân cho rằng: vì bỏ đạo của ông bà tổ tiên mà theo đạo mới, nên tai hoạ ập tới. Do đó, qui trách nhiệm cho các thừa sai và đạo mới, người dân áp lực buộc chúa Nguyễn trục xuất những người ngoại quốc rao giảng đạo mới. Năm 1617, Linh mục Francisco de Pina và một tu sĩ vừa được phái sang, gặp lúc chúa Nguyễn ban bố lệnh trục xuất các nhà truyền giáo. Bấy giờ, Linh mục Buzomi bị bệnh được quan trấn phủ Qui Nhơn - Trần Đức Hòa đưa về Qui Nhơn điều trị, Linh mục Pina được các giáo dân Nhật ở Hội An bí mật nuôi giấu, bảo vệ.
Giữa năm 1618, Trần Đức Hòa cùng Linh mục Buzomi ra Hội An đón hai Linh mục Pina và Borri cùng hai thầy Diaz, Augustino về ở tại Nước Mặn. Pina ở Nước Mặn từ năm 1618 đến cuối năm 1619, sau đó đi về giữa Nước Mặn - Hội An. Giữa năm 1625, Pina lập cư sở Dinh Chiêm, ông mất tháng 12.1625 tại cửa Đại. Christophoro Borri cập bến Cửa Hàn năm 1618, ông trú trong khu thương nhân Bồ Đào Nha tại Đà Nẵng một thời gian ngắn, rồi vào Nước Mặn, ông ở Nước Mặn từ năm 1618 đến năm 1622 trở về lại Ma Cao.
Năm 1620, ở Hội An có các thừa sai: Linh mục Marquez (Bề trên cộng đoàn), hai tu huynh người Nhật vừa đến (1620): Paulo Saïto, và José Tsuchimochi, Linh mục Pina (đi về giữa Nước Mặn và Hội An). Lúc bấy giờ tại Hội An có 82 người Việt và 27 người Nhật gia nhập Công giáo. Năm 1620, ở Nước Mặn có ba thừa sai: Linh mục Buzomi (Bề trên cộng đoàn), Linh mục Borri và tu huynh Dias (không kể Lm Pina đi về giữa Hội An và Nước Mặn), lúc bấy giờ tại Nước Mặn có 180 người Việt gia nhập Công giáo. Đến năm 1625, tại Nước Mặn có 602 người gia nhập Công giáo, ở Hội An có 325 người gia nhập Công giáo[4]. Việc Dòng Tên tăng cường hai tu huynh người Nhật trợ giúp cho Hội An và sự chênh lệch số người Việt gia nhập Công giáo trong các năm (1620, 1625) giữa Hội An và Nước Mặn, cho thấy sự tiếp xúc của các thừa sai với người Việt ở Nước Mặn rộng hơn ở Hội An rất nhiều.
Từ năm 1618 đến năm 1625, Nước Mặn là trung tâm truyền giáo lớn của xứ Đàng Trong. Ba nơi đầu tiên các vị thừa sai dòng Tên đến ở hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong là trú sở Hội An (1615, đến cuối năm 1619 lập cư sở), cư sở Nước Mặn (1618) và cư sở Dinh Chiêm (1625). Từ năm 1615-1618, các nhà truyền giáo chủ yếu hoạt động trong khu giáo dân Nhật kiều ở Hội An, ít có điều kiện tiếp cận người Việt. Khi vào Nước Mặn, dưới sự bảo trợ của Khám lý Trần Đức Hòa, quan trấn phủ Qui Nhơn – người anh em kết nghĩa với chúa Nguyễn, Nước Mặn chính là nơi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, các thừa sai được tự do tiếp cận với cư dân bản địa, học tiếng Việt và hoạt động truyền giáo.
II. Những chứng cứ khoa học xác tín Nước Mặn là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ
Thời kỳ phôi thai chữ Quốc ngữ, biết được qua những bản báo cáo thường niên của các thừa sai Dòng Tên, đó là những bức thư tường trình về hoạt động truyền giáo của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản từ Macao gửi về cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, được tập hợp in năm 1621, Nhà xuất bản Larazo Scoriggio, Napoli bằng Ý ngữ trong tập: Lettere annve del Giappone, China, Goa, et Ethiopia. Scritte. AL M. R. P. generale della Compagnia di Giesù. Da Padri dell’ifteffa Compagnia ne gli anni 1615. 1616. 1617. 1618. 1619. Volgarizzate dal P. Lorenzo delle Pozze della medesima Compagnia (Báo cáo thường niên 1615. 1616. 1617. 1618. 1619 từ Nhật, Trung Hoa, Goa và Ethiopia gửi Bề trên Tổng quản đáng kính của Dòng Tên do Linh mục Dòng là Lorenzo Pozza sưu tập và phổ biến)[5]; và các bản báo cáo thường niên viết tay ở Macao: của Antonio di Sousa (1617), Francesco Eugenio (1618), João Rodrigues Giram (1619) cùng hai báo cáo của João Roiz, Gaspar Luis (1620).
Cơ sở dữ liệu để viết các bản tường trình/bức thư trên là các bản báo cáo của các thừa sai thuộc địa phận Tỉnh Dòng từ các nơi gởi về Macao. Hai bản tường trình năm 1615 và 1616, không thấy báo cáo về Đàng Trong. Tường trình năm 1617: “Lettera annva del Collegio di Macao, Porto della Cina. Al M. R. Padre Mutio Vitelleschi, Generale della Compagnia di Giesù l’anmo 1617”, do Antonio di Sousa viết, 14 trang, mục báo cáo chung về Đàng Trong (Missione di Coccincina) có 3 trang, trong đó nhắc đến Pulocambi 2 lần[6]. Nội dung chép: Cha Buzomi viết thư ngày 7.6.1617, tường trình việc quan phủ Qui Nhơn biết được “nhà chúa” có lệnh trục xuất các thừa sai. Quan phủ biết lý do không chính đáng, ông khuyên các thừa sai tạm ẩn ở Hội An, ông hứa sẽ giúp đỡ. Thư này Cha Giám sát Dòng Tên nhận được vào ngày 26.10.1617 qua đường chuyển của người Nhật.
Tường trình năm 1618 của học viện Macao: “Lettera annvale del Collegio di Macao. Al molto Riuerente Padre Mutio Vitelleschi, Generale della Compagnia di Giesù l’anmo 1618”, do Francesco Eugenio viết tại Macao ngày 21 tháng Giêng năm 1619, 18 trang, mục báo cáo chung về Đàng Trong (Missione di Coccincina) có 7 trang, nhắc đến Pulocambi 6 lần, mục riêng cư sở Nước Mặn (Della Residentia di Pulocambi) có 2 trang, nhắc đến Pulocambi 1 lần. Nội dung cho biết: cuốn sách giáo lý đầu tiên bằng ngôn ngữ địa phương được soạn tại Nước Mặn, có sự cộng tác của một thanh niên, tên thánh rửa tội là Phêrô giúp Cha dịch giáo lý, chuyển ngữ Kinh lạy Cha, Kinh kính mừng và Kinh tin kính. Các bản tường trình từ năm 1615 đến 1619, nguyên bản tiếng Bồ và được dịch sang tiếng Ý, chưa thấy xuất hiện chữ Quốc ngữ[7].
Từ một văn bản viết tay lưu giữ ở Rôma, giáo sư - linh mục Roland Jacques tìm thấy tại kho lưu trữ lịch sử của Dòng Tên, trong bộ sưu tập “Jap-Sin”[8], ở một hồ sơ nhỏ mang đề mục miscellanea (linh tinh), ông đã nhận định: giá trị ngôn ngữ học của văn kiện này liên quan nhiều nhất đến tiếng Việt. Và ông khẳng định: “Thời kỳ sáng tạo mãnh liệt của chữ viết tiếng Việt theo mẫu tự Latin bắt đầu từ năm 1618 và chấm dứt vào năm 1651, nghĩa là năm xuất bản cuốn từ điển và cuốn giáo lý bằng chữ viết theo mẫu tự Latin…”[9]. Roland Jacques xác định: cuốn sách giáo lý đầu tiên bằng ngôn ngữ địa phương được làm tại Nước Mặn vào năm 1618 dưới sự giám sát của linh mục Buzomi, Bề trên cư sở Nước Mặn[10]. Theo một số nhà nghiên cứu: có lẽ cuốn sách chữ Nôm này chỉ ở dạng chép tay và được những người công giáo Việt Nam sử dụng, còn đối với các giáo sĩ Dòng Tên thì họ dùng bản ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, tức là như kiểu chữ Quốc ngữ phôi thai.
Tài liệu viết tay của Linh mục João Rodrigues Giram tổng kết tình hình hoạt động của các thừa sai ở Đàng Trong năm 1619 (bằng tiếng Bồ), viết năm 1620: “Annua de Cochinchina de 1619”, báo cáo cho Bề trên Cả Dòng Tên ở Rôma[11]. Tài liệu gồm 23 trang (745 hàng), khổ 14cm x 22cm [ARSI, Jap-sin quyển 71, tờ 1-12]. Sau phần báo cáo tổng quát, có hai mục cư sở Hội An và cư sở Nước Mặn.
Hai tài liệu viết năm 1621, một bản của João Roiz soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha: “Annua de Cochinchina do anno de 1620”, gồm 15 tờ, tức 30 trang (kể cả trang bìa), khổ 14cm x 22cm [ARSI, Jap-sin quyển 72, tờ 2-16] và một bản của Gaspar Luis soạn bằng tiếng Latin: “Annua Cochinchinensis 1620”, gồm 8 trang rưỡi, khổ 12cm x 20cm [ARSI, Jap-sin quyển 71, tờ 13-21= 22-27]. Hai tài liệu viết tay của Linh mục Roiz (bằng tiếng Bồ) và của Linh mục Luis (bằng tiếng Latin) viết năm 1621 là hai bản tổng kết tình hình hoạt động của các thừa sai ở Đàng Trong năm 1620 (nội dung không khác nhau), báo cáo cho Bề trên Cả Dòng Tên ở Rôma.
Mặc dù, chưa sang Việt Nam, nhưng ba tài liệu viết tay của Rodrigues Giram và Roiz viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, của Luis viết bằng tiếng Latin có thể tìm thấy một số chữ Quốc ngữ như: Ondelim “ông đề lĩnh”, Unsai “ông sãi”, Ungue “ông nghè”, Cacham “Kẻ Chàm”, Nuocman “Nước Mặn”…[12]. Những chữ Quốc ngữ được dùng trong ba tài liệu viết tay này, chắc chắn được các linh mục không biết tiếng Việt “sao y” từ các bản báo cáo hàng năm của các nhà truyền giáo ở Nước Mặn, Đàng Trong gởi về Tỉnh Dòng. Ba tu sĩ Dòng Tên bấy giờ có mặt tại cư sở truyền giáo Nước Mặn/Pulucambi/Qui Nhơn là: Linh mục Buzomi, Linh mục Pina và Linh mục Borri. Chúng ta hiểu rằng, các công trình được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi, Bề trên của cư sở truyền giáo Đàng Trong. Đây là những tư liệu viết tay xưa nhất hiện biết liên quan đến chữ Quốc ngữ và được ghi vào danh mục “bức thư thường niên” (lettre annuelle), lưu trữ ở Rôma được viết năm 1620 và 1621.
Tài liệu xuất bản đầu tiên có chữ Quốc ngữ hiện nay biết được là những ghi chép của Linh mục Christoforo Borri trong cuốn sách Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong xuất bản bằng tiếng Ý năm 1631, tại Rôma. Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ Borri đã sử dụng được ông ghi chép từ những năm ở Nước Mặn cùng với hai Linh mục Buzomi và Pina, từ năm 1618 đến 1622[13]. Chữ Quốc ngữ lúc này của Borri chưa có qui cách chặt chẽ, có chữ phiên âm theo tiếng Ý, có chữ phiên âm theo tiếng Bồ Đào Nha và chưa thấy dấu ghi thanh, ngoại trừ dấu huyền là có sẵn trong tiếng Ý. Có lẽ, do hạn chế các con chữ của nhà in lúc đó bị thiếu những dấu ghi thanh mà Borri có thể đã sử dụng khi ông soạn thảo văn bản. Borri là người đã sử dụng số lượng chữ Quốc ngữ nhiều nhất so với các giáo sĩ khác cùng thời.
Ngoài ra, những tài liệu viết tay thời kỳ này có chữ Quốc ngữ do các Linh mục khi đang truyền giáo ở Đàng Trong viết, hiện còn lưu giữ được là bức thư của Francisco de Pina viết năm 1623, bức thư của Alexandre de Rhodes viết năm 1625, bản tường trình của Gaspar Luis năm 1626, bản tường trình của Antonio de Fontes năm 1626, bức thư của Francesco Buzomi viết năm 1626.
Việc Linh mục Borri sử dụng một số chữ Quốc ngữ trong tác phẩm “Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong” và các Linh mục Giram, Roiz, Luis đã sử dụng chữ Quốc ngữ trong các bản báo cáo viết tay của mình, đã chứng minh: ngay từ những năm 1618-1621 đã có một khởi đầu phôi thai hình thành chữ Quốc ngữ, “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” tại chính cư sở Nước Mặn.
Như vậy, Cửa Hàn/Hội An là điểm xuất phát truyền giáo buổi đầu, năm 1618 lập giáo đoàn tại Nước Mặn (Qui Nhơn) và Nước Mặn là cư sở truyền giáo tiên khởi do Linh mục Buzomi đảm nhiệm. Cha Bề trên Buzomi và hai Linh mục của giáo đoàn ông là Pina và Borri là những giáo sĩ Dòng Tên quốc tịch Ý và Bồ Đào Nha đi tiên phong trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, thời gian đầu đến Đại Việt (Đàng Trong) sống, hoạt động truyền giáo và học tập, nghiên cứu, ghi âm chữ Quốc ngữ đều ở Nước Mặn (Qui Nhơn). Do đó, có thể coi Nước Mặn là nơi phôi thai, điểm khởi nguyên chữ Quốc ngữ.
III. Vai trò của các thừa sai Dòng Tên đầu tiên với chữ Quốc ngữ
Dòng Tên chủ trương các giáo sĩ phải học tiếng bản địa, hội nhập văn hóa và dùng chữ cái Latin để ghi âm tiếng nước sở tại, giúp giáo sĩ dễ dàng tiếp xúc, trò chuyện và thấu hiểu đời sống của người dân địa phương, thể hiện tinh thần thích ứng, không áp đặt văn hóa châu Âu mà hòa mình vào cộng đồng bản xứ, nhằm truyền giáo hiệu quả. Do vậy, việc Latin hóa các hệ thống chữ viết không dùng mẫu tự Latin đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai Dòng Tên. Sau đó, tiến hành biên soạn tự điển và ngữ pháp ngôn ngữ bản địa.
Năm 1618, Dòng Tên lập giáo đoàn tại Nước Mặn (Qui Nhơn) và là cư sở truyền giáo tiên khởi do Linh mục Buzomi (Ý) đảm nhiệm. Tại đây, Cha Bề trên Buzomi và hai Linh mục của giáo đoàn ông là Pina và Borri là những giáo sĩ Dòng Tên đi tiên phong trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ - “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ”. Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng Pina là người đầu tiên hoặc có công lớn trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ? Chúng ta thử đi tìm vai trò của các thừa sai Dòng Tên đầu tiên với chữ Quốc ngữ.
- Lm. Francesco Buzomi
Linh mục Buzomi đến Cửa Hàn năm 1615. Bị chúa Nguyễn trục xuất, năm 1617 Buzomi được quan trấn Qui Nhơn – Trần Đức Hòa đưa vào Qui Nhơn, lập cư sở Nước Mặn năm 1618 và ở đây đến năm 1629. Năm 1629, bị chúa Nguyễn trục xuất, ông lánh sang Campuchia. Năm 1634, Buzomi trở lại Đàng Trong, đến năm 1638 về Macao lo công việc cho chúa Nguyễn. Ông qua đời tại Macao năm 1639. Trong ba giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong: Buzomi, Pina và Borri, Linh mục Buzomi đến Đàng Trong sớm nhất và có thời gian hoạt động truyền giáo ở Đàng Trong (chủ yếu ở Nước Mặn) lâu nhất, gần 20 năm.
Linh mục Buzomi là Bề trên đầu tiên miền truyền giáo Đàng Trong (1615) và là Bề trên cư sở Nước Mặn (1618), cư sở đầu tiên của các giáo sĩ Dòng Tên tại Đại Việt, ông sẽ là chủ biên mọi công trình biên soạn ở đây lúc bấy giờ. Daniello Bartoli (1608-1685) - Nhà sử học Dòng Tên nhận xét về trình độ hiểu biết tiếng Việt của Buzomi và Pina vào năm 1623 như sau: “Linh mục Buzomi đã cố gắng nghiên cứu học hỏi, biên soạn ngữ vựng và văn phạm tiếng Đàng Trong… vào năm 1623, cha Pina và cha Buzomi là những thừa sai nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của Đàng Trong”[14].
Bức thư của Buzomi viết tại Nước Mặn năm 1626 đã tiến bộ so với bảy tài liệu viết tay trong giai đoạn đầu (1620-1626), chữ Quốc ngữ viết theo lối cách ngữ và có một số dấu giọng, Đỗ Quang Chính nhận xét: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của Zoão Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”[15].
Cần lưu ý, Linh mục Buzomi rất rành tiếng Nhật và đương nhiên cũng biết chữ Hán. Có thể Cha không rành tiếng Việt như Pina, nhưng không có nghĩa Cha không thông hiểu tiếng Việt. Còn việc Cha Buzomi sử dụng thông ngôn, chứng tỏ Cha là một người cẩn trọng, Cha cần sự chính xác nhất có thể trong thực hiện sứ mệnh rao giảng đạo Chúa, chuyển tải từ tiếng Ý qua ngôn ngữ bản địa.
- Lm. Francisco de Pina
Linh mục Pina Đến Hội An năm 1617, lúc này các giáo sĩ “đạo ngoại” bị truy đuổi, chúa Nguyễn ban bố lệnh trục xuất các thừa sai, Pina được giáo dân Nhật kiều ở Hội An cưu mang, nuôi giấu. Sau đó, quan trấn Qui Nhơn Trần Đức Hòa đưa vào ở Nước Mặn từ năm 1618 đến cuối năm 1619. Từ năm 1620 đến năm 1622, Pina đi về giữa Hội An và Nước Mặn; năm 1623, Pina mua nhà ở Dinh Chiêm và năm 1625 lập cư sở Dinh Chiêm. Ông chết năm 1625, ở Cửa Đại, táng tại Hội An[16].
Pina là giáo sĩ đầu tiên nói giỏi tiếng Việt, năm 1624 ông giảng đạo không cần thông ngôn. Ông soạn một tập nhỏ về chữ viết và các cung điệu về ngôn ngữ, đang bắt tay vào ngữ pháp, tuy nhiên vẫn phải nhờ người đọc để ghi ra bằng mẫu tự Bồ Đào Nha (thư Pina viết năm 1623). Năm 1624, Pina là thầy dạy tiếng Việt đầu tiên cho Linh mục Alexandre de Rohdes và Antonio de Fontes tại Dinh Chiêm[17].
Trong bài tựa Tự điển Việt-Bồ-La, Alexandre de Rhodes đã nhắc tới ba nhân vật có công trong việc biên soạn các tác phẩm của mình, người đầu tiên Rhodes nhắc là người thầy Pina, sau đó mới đến hai giáo sĩ Amaral và Barbosa là tác giả Tự điển Việt-Bồ và Tự điển Bồ-Việt. “Pina là người đầu tiên am tường tiếng Việt. Ngài thông thạo đến nỗi ngài giảng dạy cho dân chúng trong ngôn ngữ của họ. Giáo sĩ Đắc Lộ đã được hân hạnh làm học trò của ngài, và không ngớt ca tụng, thán phục ông thầy dạy tiếng Việt cho mình. Tiếc thay, ngày nay chúng ta không được biết gì về những bút ký của nhà truyền giáo De Pina, nếu thực ra ngài có viết. Hẳn để sử dụng riêng cho ngài, ngài đã có một phương pháp viết Quốc ngữ nào đó? Ngài có truyền cho người học trò trẻ tuổi một văn kiện nào của ngài không? Có lẽ không, theo chính lời giáo sĩ Đắc Lộ trong bài tựa kể trên.
Song hai vị khác đã được xướng danh rõ ràng, đó là giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa. Theo Đắc Lộ thì vị thứ nhất đã soạn một tự điển Việt-Bồ và vị thứ hai một tự điển Bồ-Việt”[18].
Từ ghi chép của Pina trong bức thư năm 1623 và “lời tri ân” của Rhodes đối với những người giúp đỡ ông hoàn thành Tự điển Việt-Bồ-La cho chúng ta biết rằng: Giống như Buzomi và Bori, Pina cũng chỉ mới tự soạn một phương pháp ghi âm tiếng Việt để sử dụng cho riêng mình học tiếng Việt, Pina chưa làm được công việc mà sau đó các giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes thực hiện, đó là biên soạn Tự điển và Văn phạm. Cần lưu ý, nói thạo tiếng Việt và biên soạn tự điển, văn phạm là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.
- Lm. Christoforo Borri
Borri Đến Cửa Hàn năm 1618, rồi vào ngay Nước Mặn cùng với Buzomi và Pina. Năm 1622, Borri rời Nước Mặn về Macao. Tác phẩm “Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong” của Borri xuất bản bằng tiếng Ý lần đầu tiên năm 1631, tại Rôma. Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ Borri sử dụng trong “Tường trình” là chữ được ông ghi chép từ những năm ở Đàng Trong, khi ông ở Nước Mặn cùng với hai Linh mục Buzomi và Pina từ năm 1618 đến 1622.
Trong đó, có 94 từ Quốc ngữ (chữ Quốc ngữ của Borri còn có cấu trúc câu, từ 3 đến 6 từ, có 2 câu phức tạp hơn và viết theo lối cách ngữ...)[19].
Mặc dù, Borri không thông thạo tiếng Việt bằng Pina, nhưng ông cũng đủ hiểu biết tiếng Việt để giảng giáo lý Kitô cho giáo dân người Việt tại Nước Mặn mà không cần phiên dịch. Chính ông là người đã cho chúng ta hiểu biết nhiều nhất về cách ký hiệu ghi âm tiếng Việt bằng chữ Latin của các thừa sai Dòng Tên khi giao tiếp với người Việt trong buổi đầu sáng tạo hình thành chữ Quốc ngữ. Cách ký hiệu ghi âm Latin hóa chữ viết tiếng Việt của Borri được viết từ những năm 1618-1622, nhưng giống với chữ Quốc ngữ ngày nay hơn so với chữ Quốc ngữ của Pina viết trong thư năm 1623 (người giỏi tiếng Việt nhất lúc bấy giờ) và một số nhà truyền giáo khác trong giai đoạn 1615-1626.
- Lm. Gaspar d’ Amaral và Lm. Antonio Barbosa
Gaspar d’ Amaral với cuốn “Diccionario da Lingua Annamitica” và cuốn “Diccionario anamita-portugues-latim” và Antonio Barbosa với cuốn “Diccionario portugues-anamita” (Tự điển Việt-Bồ và Tự điển Bồ-Việt). Những cuốn sách này đã bị thất lạc, chúng ta chỉ biết qua tài liệu ghi chép.
- Lm. Alexandre de Rhodes
Alexandre de Rhodes đến Việt Nam muộn (cuối năm 1624), nhưng là giáo sĩ duy nhất ra vào nhiều thời gian ở cả hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài (Đàng Trong 7 năm, Đàng Ngoài 4 năm). Ba tác phẩm chữ Quốc ngữ của ông, in năm 1651: “Phép giảng tám ngày”, “Văn phạm Việt ngữ” và “Từ điển Việt-Bồ-La”. Trong gần hai thế kỷ, mãi cho đến lúc xuất hiện hai cuốn từ điển “Việt-La” và “La-Việt” của Taberd năm 1838[20], ba tác phẩm ấy vẫn là những công trình duy nhất áp dụng hệ thống chữ viết Quốc ngữ được in.
Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là cả một quá trình, là công việc tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây. Với những chứng cứ khoa học đáng tin cậy hiện biết, giai đoạn đầu (1618-1622) phải kể đến sự đóng góp của Linh mục Bề trên Francesco Buzomi (Ý) và hai cộng sự của giáo đoàn ông là Francisco de Pina (Bồ), Christoforo Borri (Ý), ba thừa sai Dòng Tên đầu tiên sáng tạo phôi thai chữ Quốc ngữ tại cư sở Nước Mặn. Công lao của các giáo sĩ khác như: Gaspar d’ Amaral, Antonio Barbosa và nhất là Alexandre de Rhodes là ở các giai đoạn sau – giai đoạn hình thành chữ Quốc ngữ, thường được kể từ sau năm 1626.
Ngoài ra, phải kể đến sự tham gia và đóng góp quan trọng của những người Việt, tiêu biểu là quan trấn Qui Nhơn – Trần Đức Hòa, người đã cưu mang giúp đỡ các nhà truyền giáo cả về vật chất lẫn tinh thần cùng những người Việt ở Hội An, Dinh Chiêm (Quảng Nam) và nhất là vùng Nước Mặn (Qui Nhơn), nơi có người thanh niên giỏi Hán học có tên rửa tội là Phê rô đã cộng tác đắc lực với các giáo sĩ phiên âm sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai - ‘‘chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ’’
(Bài viết của buổi tọa đàm "Nước Mặn và Chữ Quốc Ngữ qua dòng thời gian" tại Giáo phận Qui Nhơn, ngày 29/9/2026).
[1] UBND tỉnh Bình Định, Bình Định với chữ Quốc ngữ, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2016, tr. 618.
[2] UBND tỉnh Bình Định, Bình Định với chữ Quốc ngữ, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2016, tr. 617.
[3] Đỗ Quang Chính, SJ. Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, An Tôn & Đuốc Sáng, 2006, America, tr. 20.
[4] Đỗ Quang Chính, SJ. Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, sđd, tr. 64-67.
[5] Xem bản văn được BNF số hoá: http://purl.pt/22670/3/#/0. Phần báo cáo về Đàng Trong, xem lá thư từ Macao của Antonio di Sousa, “Lettera annua del collegio di Macao, porto della Cina, al M. R. Padre Mutio Vitelleschi, Generale della Compagnia di Giesù, l’anno 1617”, trang 376-79; và của Francesco Eugenio, “Lettera annuale del collegio di Macao al Molto Riuerente Padre Mutio Vitelleschi Generale della Compagnia di Giesù l’anno 1618”, trang 392-401, (trang 400 in lầm Pulocambi thành Pechino).
[6] Lorenzo delle Pozze, Lettere annve del Giappone, China, Goa, et Ethiopia. Scritte. Al M. R. P. generale della Compagnia di Giesù, Napoli, 1621, tr. 376-379.
Pulocambi là tên gọi của vùng Quy Nhơn/Bình Định (Nước Mặn, nơi các giáo sĩ phương Tây đặt cư sở truyền giáo) được các nhà hàng hải và giáo sĩ Bồ Đào Nha ghi chép lại vào đầu thế kỷ XVII. Tên gọi này được cấu thành từ hai yếu tố:
Pulo (Pulaw/Pulau): Từ gốc Mã Lai cổ có nghĩa là “hòn đảo” hoặc “cù lao”.
Cambi: Dùng để chỉ “cù lao Xanh” hoặc “tre xanh”, hay theo một số ghi chép khác là hình dáng hòn đảo giống con dê (Kambing).
[7] Lorenzo delle Pozze, Lettere annve del Giappone, China, Goa, et Ethiopia, Sđd, tr. 392-401.
[8] Jap-Sin là chữ viết tắt để chỉ các tỉnh dòng Nhật Bản (provincia japonica) và Trung Hoa (vice-provincia sinica). Tài liệu này có 10 trang, loại giấy phương Đông và mực chưa bị hư hao gì.
[9] Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Định Hướng Tùng Thư, 2004, Tom I, tr. 199.
[10] Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, sđd, tr. 82-85.
[11] Jason M. Wilber, Transcription and Translation of a Yearly Letter From 1619 Found in the Japonica Sinica 71 from the Archivum Romanum Societatis Iesu, Brigham Young University, Decembre 2014.
[12] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Ra Khơi – Sài Gòn 1972, Đường Mới - Paris 1985, tr. 24 – 27. – Lm. Roiz dùng 11 từ Quốc ngữ. Lm. Luis dùng ít hơn, hình thức cũng giống như lm. Roiz, trừ chữ Ungué (ông Nghè) và Bancô (Bàn Cổ).
[13] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, sđd, tr. 29.
[14] Daniello Bartoli, Dell' Istoria Della Compagnia Di Gesù La Cina, Vol. 17, Libro Terzo, Torino 1825, tr. 123-126; 328-329.
[15] Đỗ Quang Chính, Lịch sử Chữ Quốc ngữ 1620-1659, sđd, tr. 38.
[16] Daniello Bartoli, Dell’Istoria Della Compagni Di Gesù La Cina, Libro Quarto, Torino 1825, tr. 67-68.
[17] Thư Fernandes gởi cho Nuno Mascarenhas, đề ngày 02.7.1625 tại Faifo. ARSI. JAP-SIN 68, tr. 11.
[18] Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm: Giáo sĩ Đắc Lộ và Tác phẩm Quốc ngữ đầu tiên, Nxb Tinh Việt Văn đoàn, Sài Gòn, 1961, tr. XLIV-XLV.
[19] Hoàng Xuân Việt, Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 125.
[20] Jean Louis Taberd, Dictionarium Anamitico - Latinum và Dictionarium Latino - Anamiticum (Ấn Độ), 1938.
Tác giả: Nguyễn Thanh Quang
Ý kiến bạn đọc
Tọa đàm: "Nước Mặn và chữ Quốc ngữ qua dòng thời gian"
Ba thế kỷ từ điển học Quốc ngữ - Di sản văn hóa của các thế hệ công giáo
Chuyện từ một buổi chiều trà đàm
Trần Đức Hòa - Quan phủ Qui Nhơn, ông bõ đỡ đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng trong, Bà đỡ khai sinh chữ Quốc ngữ
Bài thánh ca dâng lễ của Sơn Ca Linh: Theo dấu chân Mẹ xưa
Nơi "Dòng sông chữ Việt" không ngừng chảy
Một số tồn nghi về nơi phôi thai chữ Quốc ngữ và vai trò của các Thừa Sai Dòng tên đầu tiên với chữ Quốc ngữ "Tiền Đắc Lộ"