
NỘI DUNG
Nnc. Lê Minh Sơn
"Nhựt trình địa sở Plei Rơhai" là một tác phẩm viết tay của một thầy giảng người Việt sống và làm việc trực tiếp tại địa sở Rơhai (giáo xứ Tân Hương, Kon Tum ngày nay), cùng thời với cha Do và các linh mục thừa sai giai đoạn đầu như: Combes (cố Bê), Fontaine (cố Hoàng), Dourisboure (cố Ân), Desgouts (cố Đề).v.v. Cuốn nhựt trình này mang tư cách của một "nhật ký thực địa" sống động, chân thực, là một tài liệu lịch sử, văn hóa, tôn giáo vô cùng quý giá và độc đáo trong kho tàng văn viết truyền giáo Tây Nguyên.

1. Xuất xứ và Tác giả
Xuất xứ: Tập nhựt trình được lưu giữ tại Văn khố của Hội thừa sai Pairis (MEP) ở Pháp, được Văn phòng TGM Kon Tum sao chụp lại, hiện trưng bày tại Phòng Truyền thống Giáo phận Kon Tum - Chủng viện Thừa sai Kon Tum (Phòng Truyền thống khánh thành ngày 19/06/2025).
Tác giả: Tác giả ký tên là Phaolồ Hộ, một thầy giảng người Kinh (Đàng Trong - Qui Nhơn) được cử lên giúp việc và cộng tác truyền giáo trên vùng Tây Nguyên Kon Tum trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. Theo tác giả ghi lại: “Các Cố và Cha Annam lên giảng Đạo Chúa trong đất mọi cùng làm Cha sở Rơhai 1850, vua Tự Đức lên ngôi 3 năm, con 9 tuổi”[1], ta biết được tác giả sinh năm 1841. Cũng theo tác giả: ông nội là ông cả Kinh, cha là ông câu Nguyên ở họ đạo Cây Da (Sông Cát). Ông câu Nguyên giúp Đức Cha Cuénot Thể tại các bến Tân Thuộc, bến trạm Gò…khi các trạm này mới được thành lập. Năm 1850, khi được 9 tuổi, thầy Hộ cũng được gởi đến phụ giúp tại trạm Tân Thuộc, sau đó cùng với cha của mình (ông câu Nguyên) và người anh thứ ba tên Chức theo cha Do lên miền truyền giáo Kon Tum. Đi theo cha Do làm chú giúp khi còn nhỏ tuổi[2], thầy Hộ sống rất lâu năm, trực tiếp chứng kiến và trải qua mọi biến cố, và đã cẩn thận chép lại từng sự kiện theo thứ tự thời gian. Khi tuổi già, thầy được cha Bề trên Truyền (Vialleton) cho về nghỉ tại trường Cuénot và qua đời tại đó[3]. Vào năm 1935, cha Phaolô Lê Đình Ban cho biết: “Thầy Hộ, xưa là một chú giúp cha Do, đã theo người từ khi mới mở đạo Kontum, thầy sống lâu, mới qua đời ít năm nay mà thôi”[4].

Bối cảnh ra đời: Tác phẩm được ghi chép theo lối "nhựt trình" (nhật ký ghi chép sự việc theo từng ngày hoặc từng mốc thời gian) ngay tại Plei Rơhai - một trong những trung tâm truyền giáo và làng Công giáo đầu tiên, mang tính trọng yếu của vùng đất Kon Tum. Theo dấu mốc thời gian cuối cùng ghi trong tập nhật ký, thì tác phẩm được viết vào năm 1912, thời kỳ cha Kemlin (Văn) làm Bề trên miền truyền giáo Kon Tum.
Ngôn ngữ và Văn phong: Viết bằng chữ Quốc ngữ đời đầu (mang nhiều từ ngữ cổ Đàng Trong và phiên âm tiếng Bahnar). Văn phong mộc mạc, ghi thực, không thêu dệt, phản ánh góc nhìn cận cảnh của một người trong cuộc. Giọng văn chân thật, tôn kính: Việc tác giả xưng "con" xuyên suốt tập nhật ký không chỉ thể hiện tinh thần vâng lời, kính trọng đối với Bề trên, mà còn mang lại cho tập di thảo một giọng văn rất đỗi chân thành, mộc mạc và sống động.
2. Những Nội dung cốt lõi của tác phẩm
a. Bức tranh chân thực về công cuộc truyền giáo Tây Nguyên thời kỳ đầu (1850-1912)
- Ghi lại chân thực chuyến đi đón/rước các vị thừa sai vượt đường núi hiểm trở lên vùng đất Tây Nguyên.
- Quá trình khai phá, mua đất, lập làng và thiết lập họ đạo Plei Rơhai bên thung lũng sông Dak Bla, thành lập và phát triển các làng Kon Tum, Dak Kâm, Kon Jơdreh.v.v, Đây là những điểm tựa đầu tiên của miền truyền giáo Kon Tum.
- Ghi chép về những năm tháng đối diện với nạn đói, dịch bệnh, sự khắc nghiệt của rừng thiêng nước độc và hiểm họa từ thú dữ.
- Mô tả các cuộc xung đột bộ tộc, mâu thuẫn thời bấy giờ và quá trình cộng đồng Plei Rơhai cùng nhau xây dựng hệ thống phòng thủ, rào làng tự vệ để bảo vệ sự bình yên cho địa sở.
- Kể lại những gian khó trong thời kỳ bách đạo (vua Tự Đức) và các cha đã vượt qua những thử thách để giữ vững đức tin cho cộng đoàn.
b. Đời sống mục vụ và vai trò của Cha Do cùng các Thừa sai
- Nhiều đoạn ghi lại những công việc mục vụ thường nhật của các Thừa sai và cha Do - từ việc dâng lễ, giải tội, thăm nom người ốm đau, đến việc đứng ra hòa giải các tranh chấp, xích mích giữa các làng Bahnar theo luật tục bản địa; việc xây dựng nhà thờ, nhà xứ và củng cố đức tin cộng đoàn..
- Đặc biệt về cha Do: Nhật ký cho biết danh tính tên thật của cha Do: Phanxicô Khó Khăn VÕ VĂN DO, đồng thời mô tả dáng vóc thể lý, hành động, công viêc của cha Do (xem đoạn trích ở cuối bài).

- Sự cộng tác Việt - Pháp - Bahnar: Khắc họa mối quan hệ gắn bó, san sẻ đắng cay ngọt bùi giữa các thừa sai Pháp, các linh mục/thầy giảng/ các chú giúp người Việt và các già làng, dân làng Bahnar.
c. Việc dạy học và ký âm chữ Bahnar
Nhật ký đề cập việc mở lớp dạy chữ tại Rơhai, Kon Jơdreh: các thầy giảng người Kinh vừa dạy chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) cho thiếu niên Bahnar, vừa tích cực học tiếng Bahnar từ chính dân làng.
Ghi nhận quá trình thử nghiệm, chỉnh sửa các từ vựng Bahnar ký âm bằng chữ La-tinh để phục vụ cho việc dịch kinh sách và biên soạn tài liệu giảng dạy.
d. Bối cảnh xã hội và Nhân văn vùng đất Kontum thế kỷ XIX
Tác phẩm như một tập nhân học / xã hội học lịch sử, ghi chép về một số phong tục, tập quán, lễ hội, bệnh tật. Đặc biệt là nạn sốt xuất huyết, dịch đậu mùa, dịch châu chấu, hạn hán, mất mùa, cũng như tâm lý của đồng bào Tây Nguyên buổi đầu tiếp xúc với ánh sáng văn tự và đức tin mới.
3. Giá trị Lịch sử và Văn hóa của Tác phẩm
Tư liệu đối chiếu quý hiếm: Nếu như hồi ký của Linh mục Pièrre Dourisboure (Ân) - Les Sauvages Bahnars – Dân Làng Hồ mang góc nhìn của một thừa sai phương Tây, thì "Nhựt trình địa sở Plei Rơhai" mang góc nhìn nội bộ của người Việt. Đây là mảnh ghép đối chiếu hoàn hảo để kiểm chứng và làm phong phú thêm sử liệu về miền Kon Tum thế kỷ XIX.
Bằng chứng về sự đóng góp của người Việt: Tác phẩm là minh chứng bằng xương bằng thịt cho thấy người Việt (các linh mục, thầy giảng, chú giúp, giáo dân) không chỉ là người đi theo hỗ trợ, mà là những chủ thể trực tiếp gánh vác, xây dựng và sáng tạo văn hóa trên xứ đại ngàn.
Di sản ngôn ngữ: Cuốn nhật ký lưu giữ nhiều từ ngữ tiếng Việt cổ, cách phát âm và cách dùng từ chữ Quốc ngữ giai đoạn đầu thế kỷ XIX, có giá trị lớn đối với ngành ngữ văn học.
Sử dụng lớp từ Hán - Việt cổ và biến âm phương ngữ:
- Nhựt trình/ Địa sở: "Nhựt" là âm cổ/phương ngữ Nam Bộ (như nhựt báo). "Địa sở" là thuật ngữ hành chính - giáo xứ cổ chỉ vùng phụ trách truyền giáo.
- Bấy/ Bấy nhiêu: Các đại từ và phó từ chỉ số lượng, thời gian mang đậm màu sắc khẩu ngữ cổ miền Nam Trung Bộ, cho thấy sự tự nhiên trong văn phong ghi chép thời bấy giờ: “Ông coi bấy cái giải ông dở lật một cái”; “Vì là nghề nó làm ăn nó nhờ có bấy nhiêu đó mà thôi”; “Vì ngùi thảm khóc thương, tủi bấy lúc cha còn sống dẹp an loạn lạc cho các con đặng an nệm chiếu, rày cha nôn về chầu Chúa bỏ đoàn chiên cha hỡi là cha!”
Cách ghi ngày tháng: Sử dụng bộ từ Niên - Nguyệt - Nhựt kết hợp số đếm, tạo nên sự dung hòa giữa cách tính lịch phương Tây và thói quen văn tự Hán-Nôm truyền thống. Chẳng hạn: “Cố Kính Besombes lên mọi năm 1862, cùng là năm Nhâm Tuất, Tự Đức thập ngũ niên, nghĩa là 15 năm, khi ấy con 21 tuổi. Người qua đời năm 1867, cùng là năm Đinh Mẹo, Tự Đức 20, con khi ấy 26 tuổi.”
Lớp từ xưng hô:
- Cố/ Cố Tây/ Thầy cả/Đạo trưởng: cách xưng hô dân dã nhưng trang trọng dành cho các linh mục thừa sai.
- Bổn đạo/ Xem lễ: cho thấy quá trình Việt hóa các khái niệm thần học Tây Phương sang ngôn ngữ bình dân của người Việt thời kỳ đầu.
Không gian, địa lý: Về Annam/ về chợ: khẩu ngữ cổ, vừa phản ánh chân thực hành trình giao thương và sự gắn kết giữa vùng thượng Tây Nguyên với vùng xuôi Nam Trung Bộ.v.v.
***
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong “nhựt trình” thuật chuyện cha Do trực tiếp đi xuống tỉnh thành Bình Định để gặp hội đồng "Ba quan" (các quan lớn đứng đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát) thương thảo về việc “trả súng”. Câu chuyện này là một điểm nhấn quan trọng minh chứng cho sự can đảm, khôn khéo và bản lĩnh ứng xử của cha Do. Sự việc tạo ra tiền lệ pháp lý quan trọng bảo vệ quyền đi lại và hoạt động của các thầy giảng, giáo sĩ trên địa bàn Bình Định và Tây Nguyên thời bấy giờ.
___________________
(trích trang 16-20; trang 32-33 và 46. Đề số trang và chữ in đậm là của chúng tôi)
Phaolồ Hộ
“[tr.16] Vậy cha Do đi xuống thành một mình vô tại thành cửa đông, thì người biểu quân canh cửa lấy cây giá nó đặt giữa cửa, cho người vào thành, vô quan lớn lãnh súng, thì ông Đội nghe người nói rõ sự tình thì xin người trao khăn xéo cho nó trói tay thì nó mới dám dẫn vô, thì người liền trao khăn xéo cho ông Đội trói, mà người giao cùng ông Đội rằng: Tôi đến đây tuân phép quan chịu trói chớ đừng nói gian rằng: bắt tôi ở đâu, thì ông Đội thưa vưng chịu giữ lời chẳng dám nói sai ngoa.
Tức thì người chịu trói tay đành cho quân lính dẫn vô dinh quan Philatồ. Khi ấy miệng và lòng cha hằng thầm thĩ xin Chúa giúp, đặt lời nói nơi miệng người, như lời Chúa đã phán hứa xưa cho Danh Cha cả sáng. Ngày ấy may có đủ mặt ba quan lớn hội đồng hiệp nghị, luận bàn về việc súng, cũng có đủ các quan văn võ hội đồng đầy sân.
Tức thì ba quan lớn thấy Đội và lính dẫn cha vô, tức thì Đội lạy bẩm y như lời chẳng hề sai chậy. Tức thì quan thượng Tổng đốc dạy mở trói cha đứng trước vọng cung. Thủ lễ, nghĩa là giữ phép, lạy ba lạy.
Quan Tổng đốc hỏi ông là ai, chở súng đi đâu, tính làm việc chi. Bấy giờ cha Do thưa, bẩm ba ông lớn. Tôi là đạo trưởng Võ Văn Do. Tôi chở súng cho ông đạo trưởng Kính[5] là người Tây [tr.17] dương ở Đại Phú lang sa, người đi có bằng cấp quan Nguyên soái ở Gia Định, cho đi giảng đạo trên Mọi Trà ngao[6], chẳng chầy thời kíp ông ấy sẽ xuống mà lãnh súng mình chẳng sai.
Bấy giờ quan không tin là đạo trưởng, cùng lấy làm lạ, mà nói rằng: Có lẽ nào ngó bộ tướng ông ốm yếu mét meo gầy guộc mần rứa mà làm đạo trưởng, làm tướng sao kham mà ông nói thế ta khó tin lắm.
Bấy giờ quan dạy lấy Sách lễ đã bắt đặng của các cha tử đạo trước sẵn có trong Dinh đem ra, quan nói rằng: ông coi bấy cái giải ông dở lật một cái cho trúng hình Yêyu thọ nạn thì đặng nhà quan ta mới tin ông là đạo trưởng. Cha Do rằng: Bẩm vâng.
Bấy giờ các quan văn võ lớn nhỏ thảy đều đứng dậy ngóng cổ xem coi thể nào?
Bấy giờ cha Do lấy lòng khiêm nhượng, thủ lễ cúi đầu bái ba quan lớn, rồi cha nắm cái giải dở lật một cái trúng hình Chúa chịu đóng đinh.
Khi quan Tổng đốc cùng các quan thấy người lật trúng thì khen giỏi, cùng tin người là đạo trưởng, cùng khen rằng: người ỉu nhỉu hiền từ thoàn hậu, đại đức, cho nên quân mọi rợ hẳn tùng phục, chớ như chỗ tỉnh Tư Nghĩa, mán mọi Đá vách, quan quân lên trừ hắn không nổi, hao binh tổn [tr.18] tướng chết vô số, mà hắn chẳng chịu hàng đầu. Vậy cho nên lời Đức thánh nhơn ngài nói rằng: “Nhu thắng can thị hĩ”, nghĩa là “kẻ mềm thì thắng kẻ cứng”. Vậy thì lời Đức thánh nhơn ngài nói quả thiệt đó mà…
Bấy giờ dạy quân trải chiếu dưới đất mời cha Do ngồi hỏi cho hết các chuyện. Tan buổi hội nghị rồi các quan lui về Dinh, thì quan dạy quân dẫn cha Do đem giam tại trại, cùng cha Khâm và các người đầu mục bị giam đó, để đợi chỉ vua về tỉnh, và đợi quan Khâm mạng tại trào, vua sai vào làm quan thanh tra.
Vậy khi cha Do chưa ra chịu lãnh súng trong thành, thì có thơ các cha gởi lên mọi, cũng có thơ Thầy Xá gởi cho Chú Phiên mà nói việc đạo đã yên, vua đã tha về thong thả, song cực vì có ông quan huyện ngoài Huế mới vô, người ta kêu là ông huyện Cẹp. Vì có hai ông chức sở ở họ Gò Găng, là ông Nhu và ông Dương, thì quan huyện bắt hỏi tra biểu bỏ đạo mà hai ông chẳng chịu bỏ. Bây giờ quan hỏi ông Nhu mấy mươi tuổi thì ông Nhu bẩm ông tôi 90 tuổi, thì quan huyện dạy đánh hắn 90 roi. Rồi quan [tr.19] hỏi ông Dương mấy mươi tuổi. thì ông Dương bẩm rằng tôi 70 tuổi, thì quan huyện dạy đánh hắn 70 roi. Đánh rồi hai ông ấy lo đút cho quan huyện ba cái răng bừa cho nên khỏi tra khảo nữa, (răng bừa là ba nén bạc).
Vậy thơ ấy Thầy Xá cũng gởi phong chung cùng thơ các cha, mà gởi lên mọi. Vậy các cha sai Thầy Xá lo đem các thơ ấy cho đến bến Tân Thuộc giao cho ông Cả Huờn, ai dè rủi lên mới đến Hà nhung, chẳng ngờ có quân phòng triệt đó, tra bắt Thầy Xá. Soát trong lưng thấy có phong thơ thì liền bắt trói đóng gông Thầy cùng phong thơ giải về bẩm tỉnh.
Bây giờ ba quan tin thật là thơ làm giặc, liền hiệp đồng bỏ thơ vào ống đỏ phát sớ mật phong tốc tốc do dịch tư về Bộ. Bộ liền phiến tấu dưng lên cho vua. Vua liền thấy chữ léo ngéo tréo tro không thông thấu đặng, liền sai quan sứ đến Tòa Đức Giám mục mời người vào đọc các thơ cho vua nghe.
Vậy Đức Cha Bình[7] phụng chỉ vua theo sứ vào đền vua. Vua liền trao các thơ ấy xin Đức Giám mục thay vì quan Thị độc, đọc giải nghĩa cho vua nghe, thì Đức Cha Bình liền đọc hết thơ các cha gởi thăm nhau không có chuyện gì.
[tr.20] Sau hết Đức Cha đọc tới thơ Thầy Xá gởi cho Chú Phiên, mà nói về việc đạo vua đã tha rày bình an, song cực vì có ông quan huyện Cẹp ở huyện Phù Cát còn bắt đạo lại ông Nhu 90 tuổi đánh 90 chục, ông Dương 70 tuổi thì đánh 70 roi, nay hai ông lo đút cho quan huyện ba cái răng bừa nên ổng bớt đánh. “Ba cái răng bừa” là nói ý “ba nén bạc”.
Khi vua cùng triều đình nghe rõ thì vua chỉ đòi quan huyện về cách chức huờn dân.
Vậy lúc thơ nầy chạy về Kinh, thì đã có quan Khâm mạng vô thành Bình Định rồi mà thơ chạy lật lúc đàng. Cha Do vào thành lãnh súng rồi quan Khâm mạng mới vô sau.
Nhưng mà cha Do đã xin quan tỉnh ba lần, xin cho phái viên lên Trà Ngao mà khán coi cho tỏ tình, mà quan dần dà lâu sau mới cho phái viên đi lên thám thính, thì lúc ấy Cố Kính đã xuống Thành lãnh súng rồi…
[tr.32] Khi quan Khâm mạng về trào rồi phiến tấu dưng cho cho vua rõ sự tình y hiệp cùng lời khai.
Khi bộ hình đã nghị luận xong rồi, thì phiên tòa dâng cho vua cùng triều đình hiệp xét, rồi chỉ nghị chạy về tỉnh. Lý đoán như vầy:
Chỉ phán:
Súng xe 2 khẩu cùng các súng trận điểu thương cùng chư vật hạn tỉnh phải giao hồi lại cho Quốc sĩ sứ thần Đại Pháp Linh mục đạo trưởng Kính lãnh nhận, nhược vật hạn thất thoát bất sung số, tắc tỉnh quan thọ bồi. Còn Linh mục đạo trưởng Võ Văn Do, cùng Linh mục đạo trưởng Đặng Đức Tuấn, (là Cha Khâm) cùng các đạo mục đạo đồ, (là dân mục hữu sở cùng các chú, ấy là đạo đồ nghĩa là học trò), thì đẳng đẳng thọ hình phạt trượng - mỗi người là 90 trượng, mà cho phép chuộc đòn ấy là 900 quan tiền, song cũng phải đánh phép là nằm giữa dinh quan mà chịu đánh bóng dưới đất, mà gậy không trúng mổng cho nặng, trúng hơi hơi bóng vậy mà thôi.
Xong việc rồi tha về hết, còn sự giảng đạo trên mọi Rơhai hay là đâu chẳng còn ngăn cấm. Còn ba quan tỉnh bị phạt giáng cấp mất ăn lương sáu tháng, sau thì đổi về kinh thành [tr.33] song còn chờ lâu sau có ba quan mới vào mới đổi (…).
[tr.46] Khi vua Tự Đức cùng Triều đình đã đặng tờ quan Nguyên Soái rồi, thì tuân cứ y như vậy chẳng dám sai ngoa.
Vậy vua liền chiếu chỉ về tỉnh Bình Định dạy quan Tổng Đốc phải giao 900 quan tiền ấy lại cho Linh mục Võ Văn Do, cùng rao các lời quan Nguyên soái đã dạy cho tỉnh đường, phủ, huyện, tổng, xã đều hay, cho nên từ ấy về sau thảy đều tuân cứ chẳng dám sai ngoa, cho nên từ ấy về sau việc Đạo đặng bề an nhàn thong thả.
Vậy quan Tổng đốc liền phụng chỉ vua, liền mời cha Do vào tỉnh mà giao 900 quan tiền ấy lại y số lui về bình an.”
(hết trích)
Dựa vào thông tin của Thầy Hộ, tên thánh tên họ của cha Do là “Linh mục Phanxicô Assisi Võ Văn Do (1822-1872), quê quán Đồng Hâu, Bình Định, lên truyền giáo Tây Nguyên Kon Tum năm 1850, ở tại làng Rơhai (giáo xứ Tân Hương ngày nay), “tướng ông ốm yếu mét meo gầy guộc”, “người ỉu nhỉu hiền từ thoàn hậu, đại đức”.





Đã 166 năm Trung Tâm Truyền giáo Rơhai (1850-2026), và 144 năm “Nhựt trình địa sở Plei Rơhai” ra đời, từng dòng chữ khắc khoải năm xưa nay đã trở thành chứng nhân cho một thời kỳ khai sơn phá thạch kiên cường. Lật mở từng trang nhựt trình, người đọc như được lắng nghe tiếng vang vọng của đại ngàn, thấy lại hình ảnh những tâm hồn tận tụy đã gắn bó máu thịt với buôn làng. “Nhựt trình địa sở Plei Rơhai” vì thế không chỉ lưu giữ ký ức của một địa sở, mà còn là bản trường ca lắng đọng về đức tin, lòng nhân ái và sức sống bền bỉ qua năm tháng.
[1] Phaolồ Hộ, Nhựt trình địa sở Plei Rơhai, trang Mục lục. Ở chỗ khác Thầy Hộ cũng bộc bạch: “Cố Kính Besombes lên mọi năm 1862, cùng là năm Nhâm Tuất, Tự Đức thập ngũ niên, nghĩa là 15 năm, khi ấy con 21 tuổi. Người qua đời năm 1867, cùng là năm Đinh Mẹo, Tự Đức 20, con khi ấy 26 tuổi” (Nhựt trình, tr.6).
[2] Vào giữa thế kỷ 19 (thời vua Tự Đức), các linh mục người Việt cũng như thừa sai Pháp khi đi truyền giáo hoặc mở rộng các cơ sở giáo xứ, chủng viện thường nhận các cậu bé thông minh, ngoan ngoãn từ khoảng 8–10 tuổi đi theo để giúp việc, học chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp, Latinh và chuẩn bị dấn thân theo con đường tu trì.
[3] Lịch sử Giáo xứ Phương Nghĩa, bản đánh máy ngày14.11.1992, lưu tại Giáo xứ Phương Nghĩa, tr.2.
[4] Chức dịch thơ tín, địa phận Kontum, số 30, tháng 10/1935, tr.355.
[5] Cố Kính: Thừa sai Jean Baptiste Besombes (1833-1867), được gởi lên Miền Tuyền giáo Kon Tum năm 1863, qua đời ngày 16/08/1867, tại Plei Tơuer.
[6] Trà Ngao: Tiếng ghép giữa thành tố Trà + xứ Bahnar – Rơngao, chỉ xứ Kon Tum, rộng hơn Miền truyền Giáo Kon Tum.
[7] Đức Cha Joseph Hyacinthe Sohier (Bình) (1818-1876), Giám mục cai quản Giáo Phận Bắc Đằng Trong (Huế) từ 1862-1876.
Tác giả: Lê Minh Sơn
Ý kiến bạn đọc
Tọa đàm: "Nước Mặn và chữ Quốc ngữ qua dòng thời gian"
Chuyện từ một buổi chiều trà đàm
Trần Đức Hòa - Quan phủ Qui Nhơn, ông bõ đỡ đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng trong, Bà đỡ khai sinh chữ Quốc ngữ
Bài thánh ca dâng lễ của Sơn Ca Linh: Theo dấu chân Mẹ xưa
Nơi "Dòng sông chữ Việt" không ngừng chảy
Một số tồn nghi về nơi phôi thai chữ Quốc ngữ và vai trò của các Thừa Sai Dòng tên đầu tiên với chữ Quốc ngữ "Tiền Đắc Lộ"
Ngày 04 tháng 10: Thánh Phanxicô Assisi - Đấng sáng lập dòng Phanxicô, bổn mạng Nước Ý