
| PIERRE LỤC – NGƯỜI GIEO CHỮ QUỐC NGỮ.. 1 Dẫn nhập. 1 1. Cơ duyên trở thành người gieo chữ.. 1 2. Tâm huyết với nhiều hoạt động gieo chữ cho tương lai 3 3. Bồi đắp hệ giá trị văn hóa mới 5 Kết luận |
Trong công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ, bên cạnh những tên tuổi được nhiều người biết đến còn có không ít trí thức âm thầm góp sức vào quá trình phổ biến, mở rộng tầm ảnh hưởng của hệ chữ viết Latinh này. Pierre Lục (hay Phêrô Lục), vị linh mục thuộc Giáo phận Đông Đàng Trong là một người như thế.
Ông sinh năm 1868 tại họ Tùng Sơn, Phú Thượng, tỉnh Quảng Nam. Năm 13 tuổi, ông được Cố Huề (P. Vivier) gửi vào Tiểu chủng viện Làng Sông (Bình Định) học chữ Latinh. Kể từ đó cho đến khi qua đời vào năm 1927, ông kinh qua nhiều nơi trên hành trình tu học và mục vụ. Tuy nhiên, nơi ông gắn bó lâu dài và sâu sắc hơn cả vẫn là không gian văn hóa Làng Sông. Chính tại đây, ông đã cống hiến trọn vẹn tài năng cho sự nghiệp giảng dạy, biên tập và sáng tác, góp phần quan trọng vào việc khẳng định vị thế chữ Quốc ngữ trong bối cảnh nền văn hóa nước nhà đang chuyển mình theo hướng tiếp cận với thế giới phương Tây hiện đại. Những đóng góp của ông đối với phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỉ XX rất cần được tìm hiểu, xác quyết và tôn vinh.
1. Cơ duyên trở thành người gieo chữ
Hoạt động truyền bá chữ Quốc ngữ của Pierre Lục tại Làng Sông được ghi nhận khá đầy đủ trên Trang thông tin của Giáo phận Qui Nhơn, số ra tháng 1 năm 1928[1]. Theo nội dung phản ánh, Pierre Lục thực hiện công việc truyền bá chữ Quốc ngữ thông qua nhiều hình thức khác nhau, gồm “dạy quốc văn cho các chú”, “kiểm duyệt sách vở quốc âm”, “gánh vác” cùng lúc hai tờ nhật báo Nam kỳ địa phận và Lời thăm, sáng tác và xuất bản “những sách sau đây: Ấu học (1906), Tự lễ (1920), Hạnh Năm Thuông (1912), Trung học (1914), Nghị luận (1915), Tôn Trái Tim (1919), Song nghĩa tự (1925), Nghề trồng dâu (1926), Hai chị em lưu lạc (1927), Hồ lang chi tích (1927)”. Bằng lối văn “rõ ràng, gọn ghẽ, ý vị nồng nàn”, những bài giảng quốc văn cũng như sách báo do Pierre Lục biên soạn luôn được dư luận đánh giá cao, “ai xem cũng đều ưa thích”…
Lâu nay, trong nghiên cứu văn hóa và báo chí, hoạt động truyền bá chữ Quốc ngữ được hiểu là làm cho nhiều người biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ, đồng thời mở rộng môi trường sử dụng hệ chữ viết này trong đời sống xã hội. Ở dạng thứ nhất, hoạt động truyền bá chữ Quốc ngữ thường được thực hiện thông qua giáo dục nhà trường và các lớp bình dân học vụ. Ở dạng thứ hai, bên cạnh giáo dục nhà trường, hoạt động truyền bá chữ Quốc ngữ còn có thể thông qua nhiều loại hình văn hóa khác nhau như báo chí (tạo nhu cầu đọc tin tức bằng Quốc ngữ), văn học (tạo nhu cầu đọc tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, truyện thiếu nhi viết bằng chữ Quốc ngữ), sinh hoạt tôn giáo và cộng đồng (phổ biến kinh sách, tài liệu giáo lý...); xuất bản các loại sách phổ thông (sách luân lý, thường thức khoa học, hướng dẫn du lịch, nông nghiệp, y học...). Như vậy, một người dù không trực tiếp mở trường dạy học hay biên soạn sách giáo khoa song vẫn được xem là có đóng góp đối với phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ nếu họ làm tăng số lượng người đọc và mở rộng không gian vận động của Quốc ngữ.
Từ quan niệm trên, chúng tôi cho rằng việc xem Pierre Lục là một nhà truyền bá chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỉ XX là hoàn toàn có cơ sở. Như đã nói ở trên, ông thực hiện công việc truyền bá chữ Quốc ngữ bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tới nhiều đối tượng khác nhau. Ông không diễn thuyết, không xuất hiện quan trọng trước đám đông công chúng mà chọn con đường gieo chữ thầm lặng, bền bỉ và đầy tâm huyết. Nói cách khác, ông tạo ra một lối đi riêng giữa lúc phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ đang diễn ra rất sôi nổi và lôi cuốn. Có lẽ vậy mà suốt một thời gian dài, giới nghiên cứu cũng như dư luận xã hội chưa nhận thức đầy đủ về tư cách người gieo chữ của ông.
Sự dấn thân của Linh mục Pierre Lục vào công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX là kết quả tất yếu xuất phát từ mối quan hệ tương tác biện chứng giữa bối cảnh thời đại, môi trường hoạt động và năng lực cá nhân. Trước hết, hoạt động của ông chịu tác động trực tiếp từ xu thế chung của thời đại, khi phong trào canh tân đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phổ cập chữ Quốc ngữ nhằm nâng cao dân trí. Xu thế vĩ mô này đã tìm thấy một bệ phóng thực tiễn tại không gian văn hóa Làng Sông (Bình Định), nơi Pierre Lục đã sống, học tập và làm việc. Với tư cách là một trong ba trung tâm xuất bản và giáo dục chữ Quốc ngữ lớn nhất cả nước lúc bấy giờ, Làng Sông không chỉ sở hữu hạ tầng công nghệ in ấn hiện đại mà còn là nơi đặt Tiểu chủng viện đào tạo chủng sinh. Môi trường giáo dục và học thuật đặc thù này đã tạo không gian cho Pierre Lục thực hiện các hoạt động sư phạm thực tế, tiêu biểu là việc ông trực tiếp đảm nhiệm vai trò “dạy quốc văn cho các chú” (chủng sinh) giai đoạn 1911–1913. Chi tiết lịch sử này chứng minh môi trường Làng Sông vừa cung cấp công cụ vật chất (xưởng in), vừa là nơi để ông trực tiếp thực hành giảng dạy ngôn ngữ. Tuy nhiên, bối cảnh khách quan chỉ đóng vai trò điều kiện cần; nhân tố quyết định chính là năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của bản thân Pierre Lục. Nhờ nền tảng học vấn uyên bác và sự tinh thông cấu trúc ngôn ngữ mới, ông không chỉ dừng lại ở vai trò giảng dạy lý thuyết mà còn tiến tới biên soạn sách về tôn giáo, giáo dục, kinh tế và tiểu thuyết cho thiếu nhi có giá trị thực tiễn cao, như các cuốn Ấu học, Nghề trồng dâu nuôi tằm, Song nghĩa tự và Hai chị em lưu lạc (1927). Lòng tâm huyết với việc gieo chữ cho công chúng đã định hình nên phương thức tiếp cận bền bỉ của ông: lựa chọn con đường sư phạm và sáng tác thầm lặng, kiến tạo nền móng vững chắc cho thế hệ sau thay vì tham gia các hoạt động diễn thuyết đại chúng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa ba nhân tố này đã xác lập vị thế khách quan của Pierre Lục như một nhà truyền bá chữ Quốc ngữ tiêu biểu ở khu vực miền Trung.
2. Tâm huyết với nhiều hoạt động gieo chữ cho tương lai
Thông qua hoạt động mục vụ, dạy học và biên soạn sách, Pierre Lục đã đưa chữ Quốc ngữ đến với nhiều nhóm đối tượng khác nhau, từ các chủng sinh tại Tiểu Chủng viện Làng Sông, cộng đồng giáo dân cho đến những người bình dân có nhu cầu học chữ. Điều này phù hợp với đặc điểm chung của phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX là hướng tới việc mở rộng khả năng đọc viết trong nhiều tầng lớp xã hội. Về điều này, tờ Mémorial de la Mission de Qui Nhơn, số tháng 1/1928, cho biết như sau: “Sách người đã dọn trước hết là Ấu học còn đang thông dụng trong các trường địa phận Qui Nhơn, Sài Gòn, Cao Miên; lúc giúp nhà in năm 1905 đã thừa mấy chút giờ rảnh mà chép ra, và nội trong hai tuần đã thành quyển sách. Người cũng chép sách Trung học; Thánh giáo tự lễ; tiểu thuyết Song nghĩa tự, Đồ của Hời và Hai chị em lưu lạc; cùng nhiều sách nhỏ về đạo lý luân thường để khuyến khích nhân dân; lại còn đặt nhiều kinh văn dễ đọc, dễ hát trong những ngày lễ. Trước đây đã thấy Cha hay trở đi trở lại nhà trường, nhà in mấy phen, ấy cũng về việc sách vở chữ nghĩa là việc ám hạp[2] xứng tài xứng sức Cha, nên khó rời mấy chỗ ấy lâu”.
Trong các mối quan tâm, Pierre Lục chú ý nhiều hơn tới nhóm đối tượng thiếu nhi và những người trẻ tuổi. Khẳng định này được dựa trên hệ thống diễn ngôn có ý nghĩa thông điệp và các bộ sách giáo khoa và văn học phục vụ học chữ Quốc ngữ của thiếu nhi. Trong quan niệm của Pierre Lục, trẻ em không chỉ là đối tượng dễ truyền dạy mà còn là lực lượng đảm bảo tương lai phát triển của chữ Quốc ngữ. Ông tin tưởng rằng chữ Quốc ngữ một khi trở thành công cụ giao tiếp, học tập phổ biến trong toàn xã hội thì nền văn hóa dân tộc sẽ sớm thành công trên con đường hiện đại hóa. Vì lẽ đó, bên cạnh việc tham gia các hoạt động truyền bá Quốc ngữ trong cộng đồng, ông dành nhiều tâm sức cho việc xây dựng nguồn ngữ liệu phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, góp phần hình thành một môi trường học tập bằng chữ Quốc ngữ ngay từ những năm đầu đời. Có thể nói, nếu truyền bá chữ Quốc ngữ cho quần chúng là mục tiêu trước mắt thì việc gieo chữ cho trẻ em mới là chiến lược lâu dài mà Pierre Lục theo đuổi.
Dưới các hình thức diễn ngôn khác nhau, Pierre Lục nhiều lần nhấn mạnh với trẻ em về tầm quan trọng của việc học chữ Quốc ngữ. Ở dạng trực tiếp, ông sử dụng những câu chữ có nội dung khuyến học như “Chớ làm biếng học hành” hay “Trẻ nhỏ tập đọc cho quen”, qua đó khuyến khích các em siêng năng rèn luyện kĩ năng đọc, viết. Ở dạng gián tiếp, ông gửi gắm thông điệp khuyến học qua các câu chuyện giàu ý nghĩa giáo huấn. Chẳng hạn, để khuyên trẻ em chăm chỉ học hành, ông kể câu chuyện vui Thằng May té ra rủi – trong đó, nhân vật May lười học nên đọc sai nội dung tờ giấy vay nợ, bị cha đánh một trận nhừ tử; hoặc khi đi vào rừng, May không đọc được dòng chữ cảnh báo nguy hiểm nên bị sập bẫy săn thú, bị mọi người chê cười (Ấu học). Trong tiểu thuyết Hai chị em lưu lạc, ông xây dựng hai nhân vật Gương và Lành là những đứa trẻ ngoan đạo, “siêng học hành, mau tấn tới lạ thường, học thứ gì đều được đứng nhứt trong lớp”. Khi bị kẻ xấu bắt cóc đưa sang xứ người, hai chị em đã biết viết thư gửi về cho gia đình, nhờ đó được hỗ trợ giải cứu kịp thời. Việc xây dựng hai kiểu hình tượng đối lập cho thấy Pierre Lục không chỉ xem việc học chữ là một nhu cầu tri thức mà còn là phương tiện thiết thực giúp con người ứng phó được với những thử thách trong cuộc sống. Nói cách khác, với Pierre Lục, việc học chữ là một nhu cầu thiết thực của đời sống hàng ngày chứ không nhất thiết là để thi cử, cầu công danh địa vị xã hội cao sang như trong xã hội truyền thống. Người biết chữ có thể đọc giấy tờ, nhận biết các chỉ dẫn và tránh được những rủi ro trong cuộc sống; ngược lại, sự mù chữ trở thành nguyên nhân dẫn đến những thiệt thòi và tai nạn. Bằng những chia sẻ cụ thể như thế, ông góp phần hình thành ở trẻ em nhận thức về giá trị của chữ Quốc ngữ và động lực học tập ngay từ khi còn nhỏ.
Một điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận trẻ em của Pierre Lục là niềm tin vào khả năng tiến bộ của các em. Trong các câu chuyện mang tính giáo huấn, ông không tuyệt đối hóa những lỗi lầm của trẻ nhỏ cũng như không xem thất bại là điều không thể khắc phục. Chẳng hạn, ở cuối câu chuyện Thằng May té ra rủi kể trên, sau hàng loạt sai lầm bắt nguồn từ việc lười học, nhân vật đã biết hổ thẹn, quyết tâm học tập và về sau đủ khả năng gìn giữ cơ nghiệp do cha mẹ để lại. Cách kết thúc này cho thấy mục đích của Pierre Lục không phải là trừng phạt hay lên án trẻ em khi chúng mắc lỗi, mà là khuyến khích các em nhận ra thiếu sót của bản thân để vươn lên. Thông điệp được gửi gắm ở đây là bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể thay đổi nếu biết chăm chỉ học hành và kiên trì rèn luyện. Đặt trong bối cảnh cuộc vận động học chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, quan niệm ấy thực sự có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực cho trẻ em vượt qua tâm lý tự ti, mặc cảm vì thất học, đồng thời nuôi dưỡng niềm tin rằng việc học chữ có thể mở ra cơ hội đi đến một tương lai tốt đẹp hơn.
Sự quan tâm của Pierre Lục đối với trẻ em không chỉ thể hiện ở nội dung giáo dục mà còn ở việc lựa chọn những hình thức truyền đạt phù hợp với đặc điểm tâm lý và khả năng tiếp nhận của lứa tuổi này. Ông nhận thức rằng trẻ em thường tiếp thu kiến thức và các bài học đạo đức hiệu quả hơn thông qua những câu chuyện sinh động thay vì các lời giáo huấn khô khan. Vì vậy, việc sử dụng truyện kể trong các trước tác của Pierre Lục không phải là một lựa chọn tình cờ mà là một chủ ý giáo dục có ý thức. Ở cuốn Ấu học, ông soạn tới 31 câu chuyện, còn Hai chị em lưu lạc được viết theo thể loại tiểu thuyết phiêu lưu với hơn 150 trang in. Trong các cuốn sách giáo khoa do ông biên tập như Tập đọc cũng thường sử dụng các mẩu chuyện làm ngữ liệu học tập. Sự xuất hiện dày đặc của hình thức tự sự trong nhiều loại sách khác nhau cho thấy Pierre Lục hiểu rõ ưu thế của loại hình truyện kể đối với trẻ em. Thay vì truyền đạt kiến thức và đạo lý bằng những bài học mang tính áp đặt, ông lựa chọn cách dẫn dắt người đọc thông qua nhân vật, tình huống và diễn biến câu chuyện. Nhờ đó, việc học chữ Quốc ngữ không chỉ gắn với quá trình luyện đọc mà còn trở thành quá trình khám phá những câu chuyện gần gũi, sinh động và giàu ý nghĩa giáo dục. Có thể nói, truyện kể chính là một trong những phương tiện quan trọng mà Pierre Lục sử dụng để gieo chữ, nuôi dưỡng hứng thú học tập và truyền tải các giá trị đạo đức đến thế hệ trẻ.
Như vậy, đằng sau những lời khuyên nhủ, những câu chuyện giáo huấn và các sách học dành cho thiếu nhi là một quan niệm giáo dục nhất quán của Pierre Lục. Như nhiều trí thức đương thời, ông khuyên trẻ em “muốn biết đọc, biết viết, biết toán, thì phải siêng năng tới trường”[3]. Học tập, theo ông, không phải là công việc nhất thời mà là con đường để mở mang hiểu biết, hình thành kỹ năng sống và trau dồi phẩm hạnh. Chính vì vậy, việc gieo chữ cho trẻ em luôn gắn liền với việc khuyến khích các em chuyên cần đến trường, ham học hỏi và tin tưởng vào khả năng tiến bộ của bản thân.
3. Bồi đắp hệ giá trị văn hóa mới
Trong các diễn ngôn tuyên truyền đầu thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ được xem là công cụ giúp người dân biết đọc, biết viết, đồng thời còn là phương tiện truyền bá các giá trị phục vụ xây dựng đời sống văn hóa mới. Việc học chữ được gắn với quá trình tiếp nhận các giá trị văn hóa hiện đại, từ tư duy khoa học, kiến thức thực dụng đến những quan niệm mới về giáo dục, kinh tế và xã hội. Nói cách khác, đằng sau hoạt động gieo chữ là mục tiêu khai mở văn hóa cho người dân.
Pierre Lục cũng chia sẻ quan niệm phổ biến chữ Quốc ngữ phải gắn với mục tiêu mở mang dân trí và khai mở văn hóa. Từ vị trí công việc của mình, ông lựa chọn một phương thức thực hành cụ thể hơn là biên soạn các sách học chữ, sách khoa học thường thức, sách dạy nghề và sách tôn giáo bằng Quốc ngữ cho nhiều tầng lớp độc giả khác nhau. Qua đó, việc học chữ không chỉ nhằm đạt được năng lực đọc viết mà còn trở thành con đường tiếp nhận tri thức và những giá trị văn hóa mới.
Điều đáng quý ở Pierre Lục là ông không xem việc truyền bá văn hóa mới như một cuộc đoạn tuyệt với truyền thống. Trong các trước tác của mình, bên cạnh việc giới thiệu những kiến thức khoa học, phương pháp giáo dục và kinh nghiệm sản xuất mới, ông vẫn dành sự quan tâm đáng kể đến các giá trị đạo đức, lối ứng xử và nền tảng văn hóa vốn đã quen thuộc với người Việt. Vì vậy, khai mở văn hóa ở Pierre Lục nên được hiểu là một nỗ lực dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa việc bảo tồn những giá trị đã được cộng đồng thừa nhận với việc tiếp nhận những yếu tố mới nhằm làm giàu thêm đời sống văn hóa dân tộc.
Cuốn Ấu học là một minh chứng tiêu biểu cho cách tiếp cận văn hóa của Pierre Lục. Trong cuốn sách này, ông không phủ nhận những quan niệm giáo dục truyền thống mà tìm cách bổ sung những yếu tố mới. Bên cạnh việc đề cao đạo đức và lễ giáo, ông còn giới thiệu một cách nhìn mang tính khoa học về trẻ em, nhấn mạnh rằng mỗi độ tuổi có những đặc điểm tâm sinh lí riêng, vì thế cần có phương pháp giáo dục tương ứng. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý so với lối giáo dục truyền thống vốn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Qua đó có thể thấy mục tiêu của ông không phải thay thế hoàn toàn những giá trị cũ mà là làm giàu thêm vốn văn hóa giáo dục của người Việt bằng những tri thức mới được tiếp thu từ phương Tây.
Tác phẩm Nghề trồng dâu nuôi tằm cũng là một minh chứng tiêu biểu cho cách Pierr Lục gắn việc phổ biến chữ Quốc ngữ với mục tiêu khai mở tri thức và văn hóa. Trong phần “Tiểu dẫn”, ông cho biết việc biên soạn cuốn sách nhằm giúp người nông dân có thêm kiến thức và phương pháp để nghề trồng dâu, nuôi tằm đạt kết quả tốt hơn. Đồng thời, sách còn được sử dụng làm tài liệu phục vụ học tập và thi cử, bởi theo lời ông, “trẻ môn sinh muốn đi thi khoa Sơ học đặng biết mà trả lời”. Qua đó có thể thấy đối tượng hướng đến của cuốn sách không chỉ là người lao động mà còn là những người đang tham gia vào hệ thống giáo dục mới. Điều đáng chú ý là trước đó, các kinh nghiệm liên quan đến nghề trồng dâu, nuôi tằm chủ yếu được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, thông qua quá trình học nghề từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Khi những tri thức này được Pierre Lục ghi chép và xuất bản bằng chữ Quốc ngữ, chúng đã vượt ra khỏi phạm vi của ký ức cá nhân và kinh nghiệm địa phương để trở thành nguồn tri thức có thể lưu giữ, phổ biến và tiếp cận rộng rãi. Nhờ đó, người nông dân muốn phát triển nghề nghiệp có thể tìm đến sách như một kênh học tập bên cạnh con đường học hỏi từ những người đi trước. Từ góc độ văn hóa, cuốn sách cho thấy vai trò của chữ Quốc ngữ trong việc chuyển hóa tri thức thực hành thành tri thức thành văn. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức truyền đạt kiến thức mà còn là sự thay đổi trong cách con người tiếp cận và tích lũy tri thức. Thông qua chữ viết, kinh nghiệm nghề nghiệp được hệ thống hóa, bảo tồn và lưu thông rộng rãi hơn, góp phần hình thành một môi trường văn hóa học tập mới, trong đó sách vở trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp nhận và truyền bá tri thức.
Đặc biệt phải kể đến Hai chị em lưu lạc, một tác phẩm cho thấy rõ nỗ lực khai mở những lĩnh vực văn hóa mới của Pierre Lục. Trong lời tựa, ông cho biết việc biên soạn cuốn sách xuất phát từ thực tế “chưa có tiểu thuyết cho trẻ nhỏ coi chơi”, vì vậy ông muốn bù đắp khoảng trống ấy. Lời bộc bạch này cho thấy Pierre Lục đã sớm nhận thức được nhu cầu đọc sách giải trí của trẻ em và xem trẻ em như một nhóm độc giả riêng cần có những tác phẩm phù hợp với lứa tuổi. Xét về phương diện lịch sử văn học, Hai chị em lưu lạc thuộc số những tác phẩm văn học đầu tiên được sáng tác dành riêng cho trẻ em bằng chữ Quốc ngữ. Đồng thời, đây cũng là một trong những dấu mốc mở đầu cho sự hình thành thể loại tiểu thuyết thiếu nhi ở Việt Nam. Nếu trong suốt thời trung đại, trẻ em chủ yếu tiếp cận các văn bản mang tính giáo huấn hoặc học tập, thì đến đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ và văn hóa in ấn, những sáng tác văn học hướng trực tiếp tới độc giả nhỏ tuổi mới dần xuất hiện như một hiện tượng văn hóa mới. Từ góc độ khai mở văn hóa, ý nghĩa của Hai chị em lưu lạc không chỉ nằm ở nội dung câu chuyện mà còn ở việc góp phần hình thành một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa trước đó chưa thực sự tồn tại: văn học dành cho thiếu nhi. Thông qua tác phẩm này, Pierre Lục không chỉ cung cấp thêm một cuốn sách để trẻ em đọc mà còn góp phần xây dựng một kiểu độc giả mới, một nhu cầu văn hóa mới và một thể loại văn học mới trong đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Bên cạnh việc biên soạn sách giáo khoa, sách thường thức và sách dạy nghề, Pierre Lục còn quan tâm đến việc xây dựng một đời sống văn học bằng chữ Quốc ngữ. Các tiểu thuyết Song nghĩa tự và Hạnh Năm Thuông được ông viết cho đông đảo độc giả trưởng thành, không giới hạn trong phạm vi cộng đồng Công giáo. Qua những tác phẩm này, ông góp phần mở rộng lực lượng công chúng của văn xuôi Quốc ngữ, đặc biệt là tầng lớp bình dân. Nếu chữ Quốc ngữ giúp người dân có khả năng đọc thì văn học Quốc ngữ lại tạo ra nhu cầu đọc; hai quá trình ấy bổ sung cho nhau trong việc hình thành văn hóa đọc của xã hội hiện đại.
Tóm lại, đóng góp của Pierre Lục đối với quá trình hình thành văn hóa hiện đại Việt Nam thể hiện ở những phương diện sau đây:
- Thứ nhất, xây dựng môi trường học tập và văn hóa đọc bằng chữ Quốc ngữ: Thông qua việc biên soạn sách giáo khoa, sách thường thức, sách dạy nghề và tiểu thuyết, ông góp phần mở rộng phạm vi sử dụng chữ Quốc ngữ, đồng thời hình thành thói quen học tập và đọc sách trong nhiều tầng lớp xã hội. Chữ Quốc ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà trở thành phương tiện tiếp nhận tri thức và tham gia đời sống văn hóa.
- Thứ hai, văn bản hóa và phổ biến tri thức thực hành: Những cuốn sách như Nghề trồng dâu nuôi tằm đã chuyển các kinh nghiệm nghề nghiệp từ hình thức truyền khẩu sang hình thức thành văn, giúp tri thức được lưu giữ, hệ thống hóa và phổ biến rộng rãi hơn. Điều này góp phần thúc đẩy một phương thức tiếp cận tri thức mới, trong đó sách vở trở thành nguồn học tập quan trọng bên cạnh kinh nghiệm truyền thống.
- Thứ ba, góp phần hình thành và phát triển các loại hình văn học mới: Với các tiểu thuyết như Hai chị em lưu lạc, Song nghĩa tự, Hạnh Năm Thuông, Pierre Lục tham gia vào quá trình xây dựng nền văn xuôi Quốc ngữ hiện đại, mở rộng công chúng độc giả và đáp ứng những nhu cầu văn hóa mới của xã hội. Đặc biệt, Hai chị em lưu lạc còn đánh dấu bước khởi đầu của văn học thiếu nhi và tiểu thuyết thiếu nhi ở Việt Nam.
- Thứ tư, đề cao tinh thần khoa học trong nhận thức và đời sống: Trong nhiều tác phẩm, nhất là Ấu học, ông giới thiệu những quan niệm mới về giáo dục, nhấn mạnh việc hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em và vận dụng các phương pháp phù hợp với từng độ tuổi. Điều này phản ánh sự tiếp thu tư duy khoa học hiện đại và nỗ lực đưa những hiểu biết ấy vào đời sống thường nhật.
- Thứ năm, góp phần hình thành văn hóa truyền thông và tiếp nhận thông tin hiện đại: Bên cạnh hoạt động biên soạn sách, Pierre Lục còn tham gia tổ chức và phát triển báo chí Quốc ngữ thông qua các tờ Nam Kì địa phận và Lời thăm. Theo lời giới thiệu của Mémorial de la Mission de Qui Nhon, những tờ báo này được phổ biến rộng rãi “khắp Đông Dương”, cho thấy phạm vi ảnh hưởng vượt ra ngoài một địa phương hay một cộng đồng tôn giáo cụ thể. Thông qua việc xuất bản báo chí định kỳ, Pierr Lục góp phần đưa người dân đến với một hình thức sinh hoạt văn hóa mới, trong đó thông tin được cập nhật thường xuyên, phổ biến rộng rãi và trở thành một nhu cầu của đời sống hằng ngày. Từ chỗ chủ yếu tiếp nhận thông tin qua các quan hệ trực tiếp hoặc truyền miệng, người đọc dần làm quen với việc tiếp nhận tri thức, tin tức và các vấn đề xã hội thông qua báo chí. Theo nghĩa đó, hoạt động báo chí của Pierre Lục đã góp phần hình thành nhận thức về giá trị của thông tin và xây dựng những nền tảng ban đầu cho văn hóa truyền thông hiện đại ở Việt Nam.
- Thứ sáu, thúc đẩy sự tiếp biến giữa truyền thống và hiện đại: Việc truyền bá các giá trị văn hóa mới ở Pierre Lục không nhằm phủ nhận những giá trị truyền thống. Trái lại, ông tìm cách dung hòa giữa các chuẩn mực văn hóa vốn có với những tri thức và tư tưởng mới du nhập từ phương Tây. Nhờ đó, quá trình hiện đại hóa văn hóa được thực hiện theo hướng bổ sung và làm giàu thêm đời sống tinh thần của người Việt.
Thứ bảy, lan tỏa văn hóa Kitô giáo: Một đóng góp đáng chú ý của Pierre Lục là việc lan tỏa các giá trị đạo đức và văn hóa đức tin Kitô giáo ra ngoài phạm vi cộng đồng tín hữu. Nếu trước đó những giá trị này chủ yếu được truyền đạt thông qua hoạt động mục vụ, kinh sách và môi trường sinh hoạt tôn giáo thì thông qua sách giáo khoa, báo chí và các tác phẩm văn học Quốc ngữ, Pierre Lục đã đưa chúng đến với đông đảo độc giả trong xã hội. Các tác phẩm như Ấu học, Hai chị em lưu lạc hay Hạnh Năm Thuông không chỉ hướng tới giáo dân mà còn được viết cho công chúng Quốc ngữ nói chung. Nhờ đó, những quan niệm về đạo đức, lòng bác ái, đức hi sinh, tinh thần hướng thiện và niềm tin tôn giáo mang nguồn gốc Kitô giáo có cơ hội tham gia vào dòng chảy văn hóa chung của xã hội Việt Nam.
Những đóng góp kể trên của Pierre Lục là rất quan trọng đối với văn hóa Việt Nam ở giai đoạn chuyển mình sang phạm trù hiện đại. Có thể nói, thông qua hoạt động “gieo chữ”, ông đã tham gia tích cực vào quá trình khai mở và làm phong phú đời sống văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Kết luận
Nhìn lại toàn bộ hoạt động giáo dục, báo chí và trước tác của Pierre Lục, có thể thấy việc truyền bá chữ Quốc ngữ là mục tiêu xuyên suốt trong cuộc đời ông. Tuy nhiên, chữ Quốc ngữ trong quan niệm và thực hành của Pierre Lục không chỉ là một công cụ ngôn ngữ đơn thuần. Thông qua việc biên soạn sách giáo khoa, sách thường thức, sách dạy nghề, sáng tác văn học và làm báo, ông đã biến chữ Quốc ngữ thành phương tiện để truyền bá tri thức, mở rộng văn hóa đọc, hình thành văn hóa truyền thông, lan tỏa tinh thần khoa học và giới thiệu những giá trị đạo đức, đức tin Kitô giáo đến với đông đảo công chúng. Điều đáng chú ý là quá trình khai mở văn hóa ấy không được thực hiện theo hướng phủ nhận hay thay thế những giá trị truyền thống vốn có của người Việt. Trái lại, Pierre Lục chủ trương bổ sung những tri thức, tư tưởng và hình thức sinh hoạt văn hóa mới vào đời sống xã hội, qua đó làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh giao lưu Đông – Tây và hiện đại hóa đầu thế kỉ XX. Từ giáo dục trẻ em, phổ biến tri thức nghề nghiệp, phát triển văn học Quốc ngữ đến xây dựng môi trường báo chí, ở đâu cũng có thể nhận thấy nỗ lực kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa việc bảo tồn những giá trị quen thuộc với việc tiếp nhận những giá trị mới. Bởi vậy, nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa, Pierre Lục không chỉ là một người gieo chữ Quốc ngữ mà còn là một người gieo tri thức, gieo văn hóa và gieo những hạt giống của đời sống hiện đại. Những đóng góp của ông cho thấy sự phát triển của chữ Quốc ngữ đầu thế kỉ XX không chỉ là câu chuyện của một hệ chữ viết mà còn là câu chuyện về sự hình thành những cách học, cách đọc, cách tiếp nhận thông tin, cách lưu giữ tri thức và cách nhìn nhận thế giới mới trong xã hội Việt Nam.
Pierre Lục qua đời vào ngày 23 tháng 12 năm 1927. Cuối năm sau (2027) là tròn một thế kỉ kể từ ngày ông mất. Đó chắc chắn là dịp để chúng ta nhìn lại và đánh giá đầy đủ hơn những đóng góp của ông đối với lịch sử chữ Quốc ngữ và văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX. Pierre Lục hoàn toàn xứng đáng được ghi nhận là người gieo chữ Quốc ngữ thầm lặng và bền bỉ. Sự nghiệp của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau sonng tất cả đều hướng về một trọng điểm chung là đưa chữ Quốc ngữ đến với đông đảo công chúng và biến chữ viết ấy thành phương tiện mở mang tri thức, phát triển văn hóa và kết nối cộng đồng…
(Bài viết của buổi tọa đàm "Nước Mặn và Chữ Quốc Ngữ qua dòng thời gian" tại Giáo phận Qui Nhơn, ngày 29/9/2026).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Đình Đệ (2026), “Đóng góp của Giáo phận Đông Đàng Trong/Qui Nhơn trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ”, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dong-gop-cua-giao-phan-dang-trong-dong-dang-trong-qui-nhon-trong-viec-hinh-thanh-va-phat-trien-chu-quoc-ngu, cập nhật ngày 14/1.
2. Giáo phận Qui Nhơn (1928), “Tiểu sử Cha Phê-rô Lục”, Me’morial de la Mission de Qui Nhơn, Janvier, trang 7-10.
3. Nguyễn Thanh Quang – Võ Đình Đệ (2020), Một số vấn đề về chữ Quốc ngữ, Nxb KHXH, Hà Nội.
Tác giả: Ts. Lê Nhật Ký
Ý kiến bạn đọc
Trần Đức Hòa - Quan phủ Qui Nhơn, ông bõ đỡ đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng trong, Bà đỡ khai sinh chữ Quốc ngữ
"Nhựt trình địa sở Plei Rơhai", một tác phẩm quý giá và độc đáo về truyền giáo Tây nguyên
Về thăm mái trường xưa
Văn phòng Tòa Giám mục Qui Nhơn thông báo: Danh sách quý cha phó xứ được bổ nhiệm và thuyên chuyển trong năm 2026
Nơi "Dòng sông chữ Việt" không ngừng chảy
Thừa sai Girolamo Maiorica, người đầu tiên viết văn xuôi bằng chữ nôm
Một số tồn nghi về nơi phôi thai chữ Quốc ngữ và vai trò của các Thừa Sai Dòng tên đầu tiên với chữ Quốc ngữ "Tiền Đắc Lộ"