Thừa sai Girolamo Maiorica, người đầu tiên viết văn xuôi bằng chữ nôm
Toàn Nguyễn Văn, Nguyễn Thanh Quang
2026-10-10T05:39:12-04:00
2026-10-10T05:39:12-04:00
https://gpquinhon.net/on-co-tri-tan/thua-sai-girolamo-maiorica-nguoi-dau-tien-viet-van-xuoi-bang-chu-nom-7929.html
https://gpquinhon.net/uploads/news/2026/girolamo-maiorica.png
Giáo phận Qui Nhơn
https://gpquinhon.net/uploads/logonammucvu2025-2026-web.jpg
Thứ bảy - 10/10/2026 05:37
Nguyễn Thanh Quang
Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Gia Lai
(Bài viết của buổi tọa đàm "Nước Mặn và Chữ Quốc Ngữ qua dòng thời gian" tại Giáo phận Qui Nhơn, ngày 29/9/2026).
Giữa thế kỷ XX, một số học giả lên tiếng rằng các giáo sĩ Âu châu đem chữ Quốc ngữ vào Việt Nam là vì có cái ẩn ý làm cho người Việt mất gốc đi, để truyền đạo cho dễ. Nhưng ngay trong buổi đầu khi mới sang Việt Nam truyền giáo, các giáo sĩ Tây phương cũng đã học và sử dụng chữ Nôm, trước chữ Quốc ngữ. Các Giêsu hữu đầu tiên đến Đại Việt không chỉ sáng tạo, truyền bá chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latin, họ còn để lại rất nhiều tư liệu Hán - Nôm có giá trị. Theo thống kê của Linh mục Nguyễn Hưng, con số này lên tới 308 ấn phẩm Hán - Nôm thuộc đủ các thể loại[1]. Girolamo Maiorica, một trong những thừa sai đầu tiên đến hoạt động truyền giáo và học tiếng Việt tại Nước Mặn vào đầu thế kỷ XVII, ông là “nhà Nôm học” được ghi nhận là người khởi xướng và chủ biên 48 cuốn sách bằng chữ Nôm...
Đạo Công giáo từng sử dụng chữ Nôm và chữ Hán từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. Đầu thế kỷ XVII, các giáo sĩ phương Tây (như Buzomi, Pina, Borri) đã kết hợp cùng người Việt tạo ra hệ thống “Hán - Nôm Công giáo” để dịch kinh bổn, giúp việc truyền đạo bằng tiếng Việt dễ dàng hơn. Linh mục Girolamo Maiorica là người tiên phong, biên soạn hàng chục tác phẩm giáo lý và truyện các Thánh bằng chữ Nôm, không chỉ phục vụ tôn giáo mà còn góp phần phát triển văn học, tư liệu chữ Nôm của người Việt.
Girolamo Maiorica (chữ Nôm: 梅烏理哥, Mai Ô Lý Ca; 1581-1656) sinh quán tại Napoli, một thành phố lớn miền Nam nước Ý, là nhà truyền giáo Dòng Tên sang Đàng Trong, Đại Việt cuối năm 1624 vào học tiếng Việt tại Nước Mặn với Linh mục Buzomi. Ông được biết đến là người chủ trương và thực hiện biên soạn nhiều tác phẩm Công giáo bằng chữ Nôm với sự cộng tác của các giáo hữu Việt Nam[2]. Girolamo Maiorica là một trong những nhà văn đầu tiên viết tản văn chữ Nôm[3], những tác phẩm này được xem là có vai trò độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam[4].
Như mọi nhà truyền giáo đương thời, muốn được đi truyền đạo ở Châu Á, Maiorica cũng phải sang thụ huấn một thời gian ở thủ đô Lisboa của Bồ Đào Nha, gia nhập quốc tịch Bồ Đào Nha, trước khi lên đường đi Châu Á. Thời gian thụ huấn này thường là để học cho thông thạo và sử dụng được tiếng Bồ Đào Nha. Năm 1623, Maiorica được cử đi Macao, làm việc ở Macassar một thời gian. Năm 1624, Bề trên Dòng Tên ở Macao cử sang truyền giáo tại Đàng Trong gồm 06 Linh mục: Girolimo Maiorica, Gabriel de Mattos, Antonio de Fontes, Gaspar Luis, Emmanuel Gonzales, Alexandre de Rhodes và tu huynh Melchior Riberio.
Trong số đó, hai thừa sai đến Nước Mặn học tiếng Việt với Francesco Buzomi là: Gaspar Luis và Girolamo Maiorica. Alexandre de Rhodes và Antonio Fontes ở lại Kẻ Chàm (Quảng Nam) để học tiếng Việt với Francisco de Pina, hai thừa sai: Gabriel de Mattos và Emmanuel Gonzales về làm việc tại cư sở Hội An, giúp cho kitô hữu Nhật kiều, không cần học tiếng Việt[5].
Maiorica sống 5 năm ở Nước Mặn (1624-1629), học tiếng Việt từ Buzomi là nền tảng rất quan trọng đối với sự nghiệp văn học của Maiorica sau này. Bởi vì, 5 năm ấy đã tạo cho Majorica vốn tiếng Việt tương đối đầy đủ, đó là tiếng Việt xứ Đàng Trong - Nước Mặn. Trong Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes đã nhắc đến Maiorica “làm Bề trên vùng truyền giáo” “rất thông thạo tiếng vì đã học được trong thời gian cư trú ở Đàng Trong” và có ảnh hưởng đối với chúa Trịnh Tráng[6].
Năm 1629, sau khi bị trục xuất, ông đến giảng đạo ở Chiêm Thành, Chân Lạp, rồi Nhật Bản. Philipphê Bỉnh có nhắc: “Đang khi thầy cả Girolamo ở Annam thì trở về Nhật Bản mà làm Bề trên cai các thầy cùng bổn đạo nước ấy 3 năm, đoạn lại trở về Annam Đàng Ngoài mà ở đó cho đến già là 75 tuổi thì mới qua đời”[7].
Hai thập niên 20 và 30 thế kỷ 17, là một thời kỳ lịch sử rất quan trọng, chẳng những về mặt tôn giáo, mà cả về mặt văn học, đặc biệt là ngôn ngữ. Trước khi chữ Quốc ngữ Latin ra đời, để chuyển tải sứ điệp Tin Mừng, các thừa sai vừa dùng chữ Hán, vừa sử dụng chữ Nôm. Quyển sách giáo lý đầu tiên của các nhà truyền giáo Dòng Tên được soạn thảo tại Nước Mặn vào năm 1618 là quyển sách đạo đầu tiên bằng chữ Nôm[8].
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) là một chuyên gia nghiên cứu chữ Nôm. Ông tìm thấy trong các Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris (Bibliothèque nationale de France) các bản thảo của Maiorica, và giới thiệu trong một bài viết bằng tiếng Pháp với nhan đề: Girolamo Maiorica, các tác phẩm viết bằng chữ Nôm lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Paris (Girolamo Maiorica, ses œuvres en langue Vietnamienne conserves à la Bibliothèque Nationale de Paris), in trong chuyên san Commentarii S. Francisco Xaverio Sacri, 1552-1952 (Chú giải về Thánh Francisco Xavier, 1552-1952), số XXII của Tạp chí Lưu trữ lịch sử của Hiệp hội Chúa Jesus (Archivum Historicum Societatis Iesu). Đây là tờ tạp chí đa ngữ (Anh, Pháp, Đức, Ý, Bồ Đào Nha...) của Viện Sử học Dòng Tên (Institutum historicum Societatis Iesu, hay IHSI), xuất bản hai năm một lần, nơi đăng những bài nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử và văn hoá của Dòng Tên.
Dựa trên những thông tin có được từ tư liệu của các tu sĩ Dòng Tên thế kỷ XVII như: Joseph Tissanier, giám mục Deydier và bảng danh mục của linh mục Georg Schurhammer, Hoàng Xuân Hãn đưa ra con số 48 tác phẩm được cho là của Maiorica, trong đó có 14 tác phẩm được ông tìm thấy trong các kho thư tịch cổ. Hầu hết đều có cùng một khổ tiêu chuẩn (16×25), được viết trên giấy gió, đóng gáy theo kiểu Trung Quốc, với bìa bằng da. Tên tác giả thường được viết ở đầu tác phẩm, dưới dạng các ký tự Trung Quốc có thể phát âm: “Chi-yo-ni-mo Mai-o-yi-ca”, mặc dù cách viết có thay đổi một chút. Một trong những bản thảo, tập ba của De vita Christi (Truyện đời Chúa Kitô), có thêm dòng chữ bằng ký tự Latin “Jeronymo Mayorica”. Hoàng Xuân Hãn đã ghi lại thông tin một số người Việt cải đạo và giúp Majorica chép các bản chữ Nôm. Đó là Vito Trí, Văn Nghiêm, một người tên Hiên và một người có tên thánh là An-tôn[9].
Từ những trao đổi đương thời của các tu sĩ Dòng Tên và từ chính bản văn, có thể thấy rõ các tác phẩm này được viết với sự cộng tác của các tín hữu người Việt. Hầu hết trong số đó là những người dạy giáo lý được gọi là Thầy giảng, họ là những người có chữ nghĩa và thường có địa vị trong cộng đồng trước khi vào Kitô giáo[10]. Phần lớn tác phẩm của Maiorica là văn xuôi, viết theo nhiều thể loại như: lịch sử, luận thuyết. Nổi tiếng nhất là cuốn Các Thánh truyện (1646). Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn sách Nôm của Maiorica với 4.200 trang. Mỗi trang có từ 9 đến 12 dòng, mỗi dòng có từ 30 đến 34 chữ Nôm, tổng cộng có 1.400.000 chữ[11].
Theo Linh mục Thanh Lãng trong tác phẩm “Những chặng đường của chữ Quốc ngữ”, một số tác phẩm của Girolamo Majorica đã chụp ảnh ở Thư viện Quốc gia Paris như sau:
1– Thiên Chúa Thánh giáo hối tội kinh, theo cách xếp đặt cũ đánh số Fourmont 369, Chinois 6713, cách xếp mới đánh số B4, dày 54 tờ viết năm 1634.
2– Ông thánh Inaxu truyện, cách xếp cũ đánh số Fourmont 377, cách xếp mới đánh số B16, dày 56 tờ, viết năm 1634, theo chữ viết thì đoán là cùng một kiểu chữ như Văn Nghiêm.
3– Ngắm lễ trong mùa Phục Sinh tháng bảy, cách xếp cũ đánh số Fourmont 370, cách xếp mới đánh số B9, viết năm 1634, có lẽ do chính Majorica.
4– Thiên Chúa Thánh Mẫu, gồm có hai cuốn: cuốn I theo cách xếp cũ đánh số Chinois 3270, cách xếp mới đánh số B12, viết năm 1634, do chính Majorica; cuốn II, theo cách xếp cũ đánh số Fourmont 326, cách xếp mới BII, viết năm 1635, do chính Majorica.
5– Ông Thánh Phanxicô Xaviê truyện, cuốn này đóng liền vào cùng với cuốn ông Thánh Inaxu truyện, có lẽ do Văn Nghiêm, viết năm1650.
6– Các Thánh truyện, cách xếp cũ đánh số Chinois 375, cách xếp mới đánh số B13, có lẽ do Vito Trí, một linh mục Việt Nam soạn năm 1650.
7– Các Thánh truyện (thứ hai), không đề tên, theo cách xếp cũ đánh số Chinois 4978, cách xếp mới đánh số B14.
8– Thiên Chúa thánh giáo khải mông, cách xếp cũ đánh số Fourmont 366, cách xếp mới đánh số B6, là tác phẩm của Lôbatô Balamino, do Majorica phiên dịch ra văn Nôm.
9– Đức Chúa Chi thu, cách xếp cũ đánh số Fourmont 371, cách xếp mới đánh số B1, do Majorica viết.
10– Truyện Đức Chúa Chi thu, cách xếp cũ đánh số Chinois 2745, cách xếp mới đánh số B1.
11– Những điều ngắm trong các ngày lễ trọng, cách xếp số Fourmont 365, cách xếp mới B10, do Majorica viết.
12–Kinh những lễ mùa Phục sinh, cách xếp cũ đánh số Fourmont 373, cách xếp mới đánh số B7, ký tên Antôn, một người thuộc làng Trung Hà, Thanh Hóa.
Ngoại trừ một tác phẩm chưa xác định được danh tính tác giả, tất cả những tác phẩm Kitô giáo chữ Nôm thế kỷ XVII còn lưu truyền đến ngày nay đều của Maiorica[12]. Những tác phẩm chữ Nôm của Majorica được coi là một cứ liệu quan trọng để nghiên cứu chữ Nôm, phương ngữ, từ vựng và ngữ âm lịch sử của tiếng Việt[13].
Người Việt Nam đầu tiên nhắc đến Maiorica là Philiphê Bỉnh (1759 – 1833), còn được biết đến với tên Felippe do Rosario. Ông là một tu sĩ Dòng Tên, từng trải qua thời kì gian khó đầy nguy hiểm khi Dòng tu này bị trấn áp ở Viễn Đông sau lệnh bãi bỏ Dòng Tên của Giáo hoàng Clement XIV vào năm 1775. Philiphê Bỉnh cùng một số đồng sự được giáo đoàn Dòng Tên ở Việt Nam cử đi tìm kiếm sự giúp đỡ, che chở ở Macao, Goa – tức những trung tâm Cơ đốc giáo của Dòng Tên ở châu Á – rồi sau đó, năm 1798 đến Lisbon, kinh đô của triều đình Bồ Đào Nha, đây được xem là thế lực bảo hộ cho những người Cơ đốc giáo phương Đông. Trong thời gian hơn 35 năm cuối đời được cho là sống ở Lisbon, Philiphê Bỉnh sáng tác một lượng lớn tác phẩm viết bằng tiếng Latin, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hán và tiếng Việt chữ Quốc ngữ. Trong số những sách viết tay bằng tiếng Việt chữ Quốc ngữ của Philiphê Bỉnh, có tập Truyện nước Annam Đàng Ngoài chí Đàng Trong là tư liệu của người Việt Nam nhắc đến Maiorica sớm nhất, trong đó có kể về sự uyên bác và tài hùng biện của Maiorica trong cuộc tranh biện với mười vị sư Phật giáo trong phủ chúa Trịnh[14].
Võ Long Tê trong “Lịch sử văn học công giáo Việt Nam”, nhận xét: Girolamo Maiorica đã ứng dụng ngôn ngữ Công giáo đương thời và thí nghiệm một số danh từ, thể cách diễn đạt mới. Về phương diện hình thành ngôn ngữ Công giáo Việt Nam, tác phẩm chữ Nôm của Girolamo Maiorica đã đánh dấu một chặng đường tiến triển khả quan. Ngoài một số ít danh từ vay mượn của Trung Hoa, Maiorica còn làm giàu ngôn ngữ Công giáo Việt Nam bằng hai cách:
Một là trực tiếp phiên âm tiếng Latin như: Giêsu, Inaxu, Phêrô, Phanxicô Xavie, Giêrusalem, Isave, Giudêu, Câu-rút, Phiritô xăngtô, Xăngti Sacaramentô. Lối này rất hợp lý đối với những danh từ riêng. Còn đối với những danh từ chung như Câu-rút, các thế hệ sau sẽ thay thế bằng những danh từ dịch ý như Thập giá, Thập tự.
Hai là lối dịch ý như trường hợp các danh từ Đức Chúa Trời, Rất Thánh Đức Bà ngày nay vẫn còn thông dụng.
Công nghiệp lẫy lừng của Maiorica là sáng chế một số từ ngữ giản dị mà sâu sắc, hợp với tinh thần tiếng Việt và vừa tầm hiểu biết của giới bình dân: Phó mình đi tu hành, Phúc mọn, đánh tội, giải tội, dốc lòng chừa, ý Đức Chúa Trời sâu nhiệm lắm. Ngoài ra, có một số từ ngữ Phật giáo và Nho giáo được thánh hóa để diễn tả những khái niệm Công giáo như ác nghiệt, ăn chay, lời khấn[15].
Nếu tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum của Alexandre de Rhodes chỉ có chữ Quốc ngữ, thì cuốn Dictionarium Anamitico Latinum của Pigneau de Béhaine và cuốn Dictionarium Anamitico Latinum của Jean Louis Taberd có chữ Nôm. Trong khi sách vở kinh kệ Công giáo in bằng chữ Quốc ngữ thì sách vở kinh kệ Công giáo in bằng chữ Nôm vẫn tiếp tục được in ấn song hành. Riêng Girolamo Maiorica, toàn bộ sách của ông viết bằng chữ Nôm. Những nhà in Tây Đàng Ngoài như: Kẻ Sở, Phúc Nhạc đều phân biệt rõ ràng sách “chữ Nôm Annam” với sách “chữ Nôm Latin” – chữ Quốc ngữ. Do vậy, không thể nói người Công giáo đã đẩy chữ Nôm vào “cõi chết”. Chữ Nôm bị mai một là do tính “khổ học” và “khổ đọc” của nó!
Lúc bấy giờ, chữ Quốc ngữ Latin chưa hoàn thiện và phổ biến, Nho học đang được sùng thượng, phong trào thi văn chữ Nôm đang phát triển, những tác phẩm của Maiorica đã đem lại nguồn cảm hứng mới cho văn học chữ Nôm và xứng đáng là những tác phẩm tiên phong của loại truyện Nôm.
Tất cả tác phẩm của Girolamo Maiorica hoàn toàn phục vụ mục tiêu truyền giáo và tu đức với những đề tài rút trong giáo lý, thánh sử. Đạo giáo đã chi phối nghệ thuật trong văn phẩm của Girolamo Maiorica. Đó là những tư liệu quý báu giúp chúng ta tìm hiểu phương pháp giảng đạo, ngôn ngữ công giáo, văn học chữ Nôm tiền bán thế kỷ XVII. Có thể nói, Girolamo Maiorica là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ông có một chỗ đứng thật đặc biệt, đại diện cho văn xuôi Nôm thế kỷ XVII.
[1] Linh mục Nguyễn Hưng, Sơ thảo thư mục Hán Nôm Công giáo Việt Nam, Lưu hành nội bộ, 2000.
[2] Ostrowski, The Rise of Christian Nôm Literature in Seventeenth-Century Vietnam: Fusing European Content and Local Expression. In: Vietnam and the West. Wynn Wilcox (ed.). Cornell University Press, 2010, tr. 23.
[3] Võ Long Tê, Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam, cuốn 1, Nxb. Tư Duy, Sài Gòn 1965, tr. 178.
[4] Lm. Nguyễn Hai Tính, SJ, Sơ lược về Cha Majorica, https://dongten.net/2014/02/18/ so-luoc-ve-cha-girolamo-majorica.
[5] - Daniello Bartoli, Dell' Istoria Della Compagnia Di Gesù La Cina, Terza Parte, Delle Asia, Libro Quarto, Torino 1825, tr. 61.
- Thư linh mục Manoel Fernandes gởi cho linh mục Nuno Mascarenhas, ARSI. JAP-SIN 68, trang 11-12. Thư viết tay bằng tiếng Bồ. Linh mục Roland Jacques biên tập đoạn văn trên và dịch sang tiếng Pháp. (Xem Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha… Q.I, Định hướng Tùng Thư 2004, tr. 86-87, chú thích số 56).
- Roland Jacques, Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics, Bangkok 2002, tr. 68.
- Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, An Tôn và Đuốc Sáng 2006, tr. 65-69.
[6] Rhodes A. Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (Hồng Nhuệ dịch). Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh; 1994, tr.176.
[7] Philipphê Bỉnh, Truyện Nước Annam Đàng Ngoài Chí Đàng Trong, tr. 30-31.
[8] Francesco Eugenio, “Lettera Annuale del Collegio di Macao…l’anno 1618”, trong Lettere Annue del Giappone, sđd, tr. 401.
[9] Hoàng Xuân Hãn. Girolamo Majorica, ses oeuvres en langue Vietnamienne conserves à la Bibliothèque Nationale de Paris. In: Commentarii S. Francisco Xaverio Sacri, 1552-1952. Archivum Historicum Soietatis Iesu. 1953; 22: tr.208.
[10] Ostrowski, The Rise of Christian Nôm Literature in Seventeenth-Century Vietnam: Fusing European Content and Local Expression. In: Vietnam and the West. Wynn Wilcox (ed.). Cornell University Press, 2010, tr. 27.
[11] Lm. Nguyễn Hưng, Sơ thảo Thư mục Hán Nôm Công giáo Việt Nam, lưu hành nội bộ, 2000, tr. 23.
[12] Ostrowski, The Rise of Christian Nôm Literature in Seventeenth-Century Vietnam: Fusing European Content and Local Expression. In: Vietnam and the West. Wynn Wilcox (ed.). Cornell University Press, 2010, tr. 23.
[13] Lã Minh Hằng (2013). Nguồn tư liệu từ vựng thế kỷ 17 qua khảo sát truyện ông Thánh Ixanu. Giáo phận Qui Nhơn.
[14] Cao Thế Dung. Việt Nam Công giáo sử tân biên (1553-2000). Gretna, LA: Cơ sở Truyền thông Dân Chúa; 2002, tr. 470.
[15] Võ Long Tê Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam, cuốn 1, Nxb. Tư Duy, Sài Gòn 1965, tr. 176-177.
Tác giả: Nguyễn Thanh Quang