Dẫn nhập
Tọa lạc tại quận VII, trung tâm thủ đô Paris, thân xác của thánh Vinh Sơn được đặt trong một chiếc hòm kính tại nơi trang trọng của ngôi nhà nguyện thuộc tu hội truyền giáo Lazarist để cho nhiều người đến đây thăm viếng và cầu nguyện. Thân xác của thánh nhân được bảo quản một cách sống động đến nỗi nhiều khách hành hương có cảm giác rằng: không phải họ đang đối diện với một cái xác chết, mà đúng hơn, họ đang chiêm ngưỡng một con người vĩ đại đang chìm vào một giấc ngủ bình an.
Gọi thánh Vinh Sơn là một con người vĩ đại không có gì là quá đáng, bởi lẽ danh tiếng của ngài được nhiều người biết đến không chỉ tại Pháp, tại châu Âu mà còn khắp nơi trên thế giới. Ngài được chọn là thánh quan thầy của các hội đoàn từ thiện Công giáo. Nét đặc biệt trong đời sống của thánh nhân là lòng yêu mến người nghèo; tận tụy hy sinh chăm sóc người nghèo và thành lập các hội đoàn để phục vụ cho họ.
Thánh Vinh Sơn sinh vào ngày 24 tháng 4 năm 1581 trong một gia đình nghèo tại Pouy vùng Landes, nước Pháp. Vào thời điểm này, Giáo Hội Pháp đang lâm vào tình trạng khủng hoảng: đa phần hàng giáo sĩ yếu kém, chạy theo bổng lộc; Dân nghèo miền quê bị bỏ rơi về mặt thiêng liêng; Linh mục được coi như một “nghề” để đảm bảo tương lai tươi sáng cho bản thân và cho gia đình.
Thánh Vinh Sơn chịu chức linh mục khá sớm, lúc 19 tuổi, với động cơ có phần ích kỷ và như một phương tiện để thu góp lợi lộc trần gian. Khi làm cha sở ở Châtillon và làm tuyên úy cho gia đình quý tộc De Gondi, thánh Vinh Sơn khám phá ra dân nghèo miền quê đang bị bỏ rơi về mặt thiêng liêng. Đồng thời ngài nhận thấy nhiều giáo sĩ quá yếu kém về vấn đề học vấn và đạo đức. Cùng với sự hướng dẫn của các vị linh hướng như Đức Hồng Y Bérulle, François de Sales và André Duval, ngài đã quyết định hoán cải đời sống của mình để tận hiến cho người nghèo, đồng thời chăm lo đào tạo hàng giáo sĩ.
Năm 1617, ngài thành lập các Hội Bác Ái và Hội Các Bà Bác Ái (Les Équipes Saint Vincent) để trợ giúp những người nghèo khổ. Tiếp đến vào năm 1625, ngài lập Tu Hội Truyền Giáo với mục đích: “rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó” và đã được Đức Tổng Giám Mục Paris châu phê năm 1626.
Năm 1633, cùng với chị thánh Louise de Marillac, ngài tiếp tục thành lập Tu Hội Nữ Tử Bác Ái. Đây là một cộng đoàn đặc biệt gồm các chị sống “giữa đời” để phục vụ các bệnh nhân và người nghèo khó về mặt vật chất cũng như tinh thần.
Ngài qua đời vào ngày 27 tháng 9 năm 1660, lúc 80 tuổi. Vào ngày 13 thánh 8 năm 1739, ngài được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII phong chân phước; và ngày 16 tháng 6 năm 1737 ngài được Đức Giáo Hoàng Clêmentê XII phong lên hàng hiển thánh. Ngày nay, những bức thư, những bài huấn đức, những lời phát biểu của ngài vẫn được các hội viên của tu hội lưu giữ cách cẩn thận như một kho tàng quý giá hình thành nên linh đạo bác ái của thánh nhân.
Cùng một mối bận tâm chăm sóc người nghèo như thánh Vinh Sơn và nhiều chứng nhân khác trong truyền thống lịch sử của Giáo Hội, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã mở đầu triều đại Giáo hoàng của mình bằng việc ban hành Tông huấn Dilexi Te vào ngày 4.10.2025, nhân ngày lễ kính thánh Phanxicô Assisi. Đây là một văn kiện được khởi thảo bởi Đức Thánh Cha Phanxicô và được Đức Thánh Cha Lêô hoàn tất qua việc quy tụ những suy tư thần học và định hướng mục vụ chung quanh mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô dành cho người nghèo.
Bằng việc phân tích và so sánh một vài khía cạnh mang tính thần học và mục vụ trong linh đạo của thánh Vinh Sơn dưới góc nhìn của Tông huấn Dilexi Te, qua đề tài này, chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời cho nỗi băn khoăn: liệu linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn cách thời đại chúng ta gần 4 thế kỷ có còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại hay không?
Ngoài ra, với tư cách là những linh mục, là những người tiếp nối sứ mệnh của Chúa Giêsu để đưa con người đến gần Thiên Chúa, việc tái khám phá linh đạo của thánh Vinh Sơn dưới góc nhìn của Tông huấn Dilexi Te sẽ giúp cho chúng ta nhận ra những điều mới mẻ nơi khuôn mặt của những người nghèo và tìm ra hướng chăm sóc người nghèo một cách hiệu quả hơn theo tinh thần của Tin Mừng. I. Chọn lựa người nghèo.
1. Người nghèo là đối tượng được Thiên Chúa quan tâm.
Trong tông huấn Dilexi Te số 16, Đức Giáo Hoàng Lêô đã trình bày một khuôn mặt đầy lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho người nghèo. Tình yêu ấy khởi đi từ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Người muốn giải thoát con người ra khỏi ách nô lệ, sợ hãi, tội lỗi và quyền lực của sự chết. Người đã chọn cách quay về phía các thụ tạo và chăm lo cho tình trạng khốn khổ của chúng. Chính ở điểm này mà trong các trang kinh thánh Cựu Ước, chúng ta nhận ra hình ảnh Thiên Chúa là bạn hữu và là Đấng giải thoát người nghèo; Người lắng nghe tiếng họ kêu và ra tay cứu họ (Tv 34,7). Ngoài ra, qua miệng ngôn sứ Isaia và Amos, Thiên Chúa lên án những bất công đối với những người yếu đuối nhất và kêu gọi Israel phải canh tân nội tâm, bởi vì người ta không thể cầu nguyện và dâng hy lễ trong khi đang áp bức những người bé mọn nhất (Is 10, 1-4; 58, 6-12).
Như thế, thật dễ hiểu khi nghe Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định rằng “trái tim Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt cho người nghèo… Toàn bộ lịch sử cứu độ của chúng ta được đánh dấu bởi sự hiện diện của người nghèo”.
Việc ưu tiên chọn người nghèo trên đây của tông huấn Dilexi Te đã được khắc sâu trong linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn. Thánh nhân khẳng định việc rao giảng Tin Mừng cho người nghèo là ơn gọi đặc trưng của tu hội do ngài thành lập: “việc chúng ta được kêu gọi để đồng hành với người nghèo và tham dự vào sứ mạng của Con Thiên Chúa thực sự vượt quá trí hiểu của chúng ta… Vâng, rao giảng Tin Mừng cho người nghèo là một sứ mạng lớn lao bởi đó chính là sứ mạng của Con Thiên Chúa. Còn lý do nào để dâng lời ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa hơn lý do này?”
Theo thánh Vinh Sơn, những người nông dân nghèo là những kẻ “được tuyển chọn”, và hiến pháp của tu hội cũng quan niệm như thế. Các thừa sai phải khao khát truyền bá Tin Mừng cho mọi hạng người, nhưng cách riêng là cho những người bị bỏ rơi nhất, những người dân quê nghèo nhất. “Tu Hội truyền giáo nhỏ bé này hiến thân để phục vụ người nghèo, những người “được Thiên Chúa tuyển chọn.” Vì tình yêu của chúng ta dành cho người nghèo, chúng ta có lý do để hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ yêu thương chúng ta. Do đó, chúng ta hãy đi và làm việc với một tình yêu mới để phục vụ người nghèo, hãy tìm kiếm những người thiếu thốn nhất và bị bỏ rơi nhất trong số họ. Chúng ta hãy nhìn nhận rằng trước mặt Chúa, họ là chủ và là thầy của chúng ta và chúng ta không xứng đáng cống hiến cho họ những việc phục vụ nhỏ bé của mình”
Như thế, có một sự tương đồng trong sứ mạng phục vụ người nghèo nơi Đức Giáo Hoàng Lêô và linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn. Nếu như tông huấn Dilexi Te nhấn mạnh đến tình yêu và sự ưu tiên chọn người nghèo của Thiên Chúa, thì linh đạo của thánh Vinh Sơn nhấn mạnh đến việc phục vụ cho người nghèo là sứ mạng quan trọng hàng đầu của các thành viên trong tu hội. Những hành vi bác ái dành cho người nghèo không gì khác hơn là họa lại và nối dài mối bận tâm của Thiên Chúa dành cho những người đang gặp hoàn cảnh khổ đau. 2. Khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi người nghèo
Thiên Chúa không chỉ chọn đứng về phía người nghèo, tông huấn Dilexi Te còn nhận ra chính Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự nguyện trở nên là một người nghèo đích thực. Khi thời gian tới hồi viên mãn, chính Đức Giêsu đã mặc lấy thân phận của người nghèo và chia sẻ những giới hạn mong manh của phận người. Các sách kinh thánh Tân Ước cho thấy: ngay từ đầu Chúa Giêsu đã nếm trải kinh nghiệm của một người bị khướt từ vì “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,7). Người phải chịu cảnh sinh ra trong khung cảnh nghèo khó, được đặt trong máng cỏ và phải chạy trốn sang Ai Cập để tránh sự truy sát của nhà vua Hêrôđê (Mt 2,13-15). Trong quảng thời gian giảng dạy công khai, nhiều lần Người bị trục xuất ra khỏi thành (Lc 4,14-30). Cuối cùng Người bị án chết một cách nhục nhã và đau đớn trên cây thập giá. Dù vô tội, nhưng Người bị đối xử như một tội nhân và là nạn nhân của tình trạng bạo lực, hận thù và bất công của xã hội thời bấy giờ. Chính vì lẽ đó mà thánh Phaolô đã diễn tả cuộc đời của Đức Giêsu một cách ngắn gọn mà sâu sắc: “quả thật, anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9).
Không chỉ sống cuộc đời nghèo khó, Chúa Giêsu còn đồng hóa mình với những người khốn khổ. Theo Tin Mừng thánh của thánh Matthêô, trong cuộc phán xét chung, cả những người công chính lẫn những người bị chúc dữ đều tỏ ra ngạc nhiên và hỏi: “lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?” (Mt 25, 37-39). Tuy nhiên câu trả lời của Chúa đã khiến cho họ bất ngờ: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40).
Như vậy đã rõ, Chúa Giêsu đã chọn một lối sống nghèo và Người cũng hiện diện nơi những ai đang trong cảnh khốn cùng. Cung cách đối xử của chúng ta đối với những người nghèo là một cách gián tiếp như đang đối xử với chính Chúa vậy.
Thánh Vinh Sơn trong linh đạo bác ái của mình đã nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi những người nghèo và ngài kêu gọi các thành viên trong tu hội của mình hãy đối xử với người nghèo như đang đối xử với chính Chúa. Tuy nhiên, khi nói về việc gặp gỡ Đức Kitô nơi người nghèo, thánh Vinh Sơn cũng lưu ý rằng: đây là sự hiện diện mang tính bí tích, chứ không phải là sự hiện diện thể lý. Ngài khuyên các thừa sai hãy nhìn người nghèo với con mắt đức tin chứ không phải xăm soi vẻ bề ngoài của họ.
Chúng ta không được phán xét một người dân quê nghèo nàn theo dáng vẻ bên ngoài hay theo tầm hiểu biết của người đó. Vì lẽ rằng, họ không mang dáng vẻ hoặc tâm hồn của những người được giáo dục, mà thường họ rất thô kệch và trần tục. Nhưng hãy xoay ngược tấm hình lại, và chúng ta sẽ thấy qua ánh sáng đức tin, họ là hiện thân của Con Thiên Chúa Đấng đã trở nên nghèo khó trong thế gian. Nhiều khi Ngài không còn dáng vẻ con người nữa: Ngài đã bị coi là điên rồ đối với các lương dân và là viên đá vấp phạm cho những người Do Thái, và với tất cả những điều đó, Ngài tự xưng là Đấng Rao Giảng Tin Mừng cho người nghèo. Ôi lạy Chúa, thật tốt đẹp biết bao khi nhìn những con người nghèo nàn này trong Chúa và trong sự quý mến mà chính Đức Giêsu đã dành cho họ. Nhưng nếu chúng ta nhìn họ theo những tình cảm xác thịt và theo tinh thần thế gian, thì họ sẽ xuất hiện như những kẻ đáng khinh
Điểm mấu chốt trong việc nhận ra hình ảnh của Chúa Giêsu nơi người nghèo, theo thánh Vinh Sơn, hệ tại ở việc suy niệm và gặp gỡ Chúa Kitô nơi nhà nguyện. Một thừa sai có thể làm nhiều công việc bác ái, nhưng điều đó sẽ trở nên vô nghĩa nếu như họ thi hành công việc ấy mà thiếu đi tinh thần của Tin Mừng, nghĩa là thiếu đi đức tin và lòng yêu mến Thiên Chúa. Thánh Vinh Sơn đưa ra đòi buộc dành cho các hội viên của mình là phải có một đời sống chiêm niệm và cầu nguyện. Nhờ đó, họ mới có thể có một sức mạnh nội tâm trong việc thi hành đức ái trọn hảo. Thật không dễ để nhận ra Đức Kitô nơi những con người khó tính khó nết, đôi lúc họ còn tỏ thái độ bất cần. Nhưng chính trong những thái độ có vẻ khó khăn của họ, các thừa sai càng trở nên kiên định hơn trong việc dấn thân phục vụ nhờ vào đời sống chiêm niệm sâu xa trước đó. 3. Trở nên nghèo khó để phục vụ người nghèo
Chúa Giêsu trước khi đến với người nghèo, đã trở nên là một người nghèo khổ; do đó khi bàn về sứ mạng của Giáo Hội, Tông Huấn đã khẳng định: Giáo Hội của chúng ta là “một Giáo Hội dành cho người nghèo”. Đây cũng là niềm mong ước của đức cố giáo hoàng Phanxicô khi ngài được bầu chọn làm giáo hoàng: “tôi mong muốn biết bao một Giáo hội nghèo và vì người nghèo!” Niềm mong ước này của người lãnh đạo Giáo Hội đã phản ánh một niềm xác tín rằng Giáo Hội phải tự đồng hóa với những người bé mọn nhất để phục vụ cho người nghèo.
Trong tông huấn này, hàng loạt các chứng nhân của một đời sống khó nghèo theo Tin Mừng được đưa ra như một lời khẳng định chắn chắn về con đường mà Giáo Hội cần phải có để phục vụ cho người nghèo. Các tu sĩ hành khất chọn đời sống lữ hành, không có tài sản riêng hay chung, phó thác hoàn toàn cho ơn quan phòng của Thiên Chúa. Ơn gọi của họ không chỉ phục vụ người nghèo mà trở nên nghèo với người nghèo. Họ nhìn thành phố như một sa mạc mới và những người bị gạt ra bên lề như các bậc thầy thiêng liêng mới.
Một chứng nhân khác cho việc lựa chọn đời sống khó nghèo để phục vụ người nghèo được tông huấn này đưa ra, đó là thánh Clara. Thánh Clara đã xin khướt từ những đặc ân của giáo hoàng về việc đảm bảo những của cải vật chất dành cho đan viện của mình. Ngoài ra, ngài còn xin “đặc quyền nghèo khó”, nghĩa là quyền được sống mà không hề sở hữu của cải vật chất nào vì thánh nhân luôn tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa và nhận thấy sự nghèo khó tự nguyện là một hình thức tự do và mang tính ngôn sứ.
Cũng vậy, thánh Vinh Sơn ngoài việc kêu gọi các hội viên của mình dấn thân phục vụ người nghèo, ngài cũng khuyên nhủ họ chọn lối sống nghèo khó để phục vụ cho người nghèo. Sự khó nghèo của người thừa sai theo linh đạo của thánh Vinh Sơn trước hết được thể hiện ở lối sống từ bỏ mọi dính bén và lệ thuộc vào của cải trần thế, nhờ đó họ có thể tự do dấn thân phục vụ Thiên Chúa và anh chị em của mình một cách tự do hơn. Ngài khẳng định điều này như sau:
Khó nghèo là tự nguyện từ bỏ mọi của cải thế gian vì lòng mến Chúa, hầu có thể phục vụ Chúa cách hữu hiệu hơn và vươn tới ơn cứu độ. Khó nghèo là một sự rũ bỏ, từ khước, chối bỏ, buông bỏ, điều này vừa có tính nội tại vừa có tính ngoại tại, bởi không thể từ bỏ hết mọi của cải mình có được, nếu không phát xuất từ chính nội tâm mình, nghĩa là từ trái tim. Song song với của cải hay tài sản của mình, ta còn phải tách mình khỏi mọi dính bén cũng như lòng quyến luyến với chúng, và đừng để lòng quyến luyến những thực tại mau hư nát này. Nếu chúng ta không từ bỏ ước muốn thu tích của cải vật chất, chúng ta sẽ không làm được gì nữa. Chúng ta chỉ lừa dối và quay lưng lại với điều thiện hảo hơn. Trên hết, Thiên Chúa đòi hỏi vì tâm hồn của chúng ta. Quả vậy, chúng ta hãy xin Chúa, sao cho người không có của cải có thể đạt được công trạng lớn hơn người từ bỏ nhiều của cải? Bởi người không có gì thì từ bỏ với tình yêu lớn hơn. Chúng ta có thể thấy điều này nơi các môn đệ, và đây cũng chính là điều Chúa đòi hỏi nơi chúng ta.
Một lối sống nghèo khó về vật chất ở bên ngoài của người thừa sai, theo thánh Vinh Sơn phải được xuất phát từ một điều còn quan trọng hơn, đó là tinh thần khó nghèo. Đây chính là nét căn bản của hành vi bác ái vì nếu không trang bị cho mình một tinh thần nghèo khó thì những thực hành khác về nhân đức này đều trở nên vô nghĩa. Đối với thánh Vinh Sơn, tinh thần nghèo khó là tinh thần của Chúa:
Quả thật, tinh thần nghèo khó là tinh thần của Chúa. Khinh chê điều Chúa khinh chê, quý chuộng điều Người quý chuộng, tìm kiếm những điều Người tán thành, lớn lên trong niềm tin là có được tinh thần của Người. Mà sống theo tinh thần của Chúa là yêu mến và quý chuộng sự nghèo khó như Đức Giêsu và các môn đệ của Người đã thực hành. Bởi vì tinh thần nghèo khó luôn trái ngược với tinh thần của thế gian là óc chiếm hữu, tìm kiếm sự thoải mái và tự mãn, lòng dính bén với sự thế gian, tinh thần của kẻ phản Kitô. Vâng, kẻ phản Kitô – không phải kẻ phản Kitô sẽ đến trước ngày Chúa trở lại – là tinh thần ước muốn của cải, sự sung túc đối nghịch với Thiên Chúa và với những châm ngôn mà Con Chúa đã dạy. II. Lòng thương xót dành cho người nghèo
1. Thực trạng về sự đau khổ của người nghèo.
Ngay ở những số đầu tiên, tông huấn Dilexi Te làm vang vọng lại “tiếng kêu của người nghèo” được trình bày trong sách Xuất Hành. Khi Thiên Chúa tỏ mình cho ông Môsê trong bụi gai bốc cháy, Người cho biết: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập; Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng... Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi” (Xh 3,7-8.10). Như thế, Thiên Chúa luôn lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và bận tâm với những nhu cầu của họ.
Khi nhìn về thực trạng xã hội ngày nay, tông huấn tiếp tục làm vang lên “những tiếng kêu đau khổ” của người nghèo. Sự đau khổ ấy có thể đến từ tình trạng thiếu thốn phương tiện vật chất để sống còn; nghèo vì bị gạt ra bên lề xã hội và không thể cất tiếng bảo vệ cho phẩm giá của mình; nghèo về luân lý và thiêng liêng, nghèo văn hóa, nghèo do yếu đuối hay mong manh về mặt cá nhân hoặc xã hội, nghèo vì không có quyền, không có chỗ đứng, không có tự do.
Cùng một hướng nhìn, thánh Vinh Sơn nhận ra tình trạng đói nghèo của con người không chỉ dừng lại ở việc thiếu thốn lương thực hay tiền bạc vật chất, mà nó còn bao gồm các nỗi khổ về tinh thần. Đó là tình trạng bất hạnh của những con người bị tước đi lòng tự trọng, niềm tin và hy vọng. Họ bị khóa chặt trong tình trạng tuyệt vọng và bị bao trùm bởi những khó khăn triền miên, thậm chí đói khát và bệnh tật. Thánh Vinh Sơn đã không bỏ quên những con người này. Ngài nhận ra rằng dù cái nghèo có ẩn núp dưới bất cứ hình thức nào đi chăng nữa thì mỗi hình thức đều cần phải được nhận biết và giúp đỡ. 2. Cảm thức về lòng thương xót, một sự bó buộc trong đức tin.
Đứng trước tình trạng nghèo đói về phương diện vật chất hoặc tinh thần, không phải tất cả mọi người đều có chung một cảm thức về lòng xót thương. Tông huấn đã chỉ ra những “định kiến mang tính ý thức hệ”; cái đang cố biện minh cho sự tồn tại của nghèo đói như một thực trạng hiển nhiên của xã hội. Người ta tìm cách chứng minh cho nổ lực làm giảm đi sự nghèo đói bằng cách so sánh mức sống ngày nay với những tiêu chuẩn đã có từ lâu trong quá khứ và không tương ứng. Mặc khác, ý thức này cũng lý luận rằng: sự nghèo đói là do chính họ lựa chọn; người nghèo đáng nhận kết cục bị như thế vì sự lười biếng và không muốn làm việc. Trái lại, những người giàu có xứng đáng hưởng được thành quả do công sức của họ làm ra. Về điểm này, đúng hơn, phải nhận thấy rằng: không phải tất cả người nghèo đều lười biếng; thực tế cho thấy có những người làm việc vất vả từ sáng đến tối cũng chỉ giúp họ sống qua ngày. Ngoài ra, nếu thừa nhận rằng tất cả mọi người đều có cùng phẩm giá như nhau bất kể nơi sinh, thì không thể làm ngơ trước sự chênh lệch mênh mông về điều kiện sống giữa các quốc gia và vùng miền.
Khi những “định kiến mang tính ý thức hệ” được đưa ra để bỏ mặc người nghèo trong số phận của họ, Tông huấn đã đưa ra câu chuyện về người Samari nhân hậu (Lc 10,25-37) để truy vấn: tôi là ai trong số các nhân vật của câu chuyện? là Thầy tư tế? là Thầy Lêvi? hay là người Samari nhân hậu? Câu chuyện dụ ngôn này vẫn còn hợp thời trong bối cảnh xã hội ngày nay. Đối diện với hoàn cảnh khó khăn của người nghèo là căn bệnh thờ ơ và ích kỷ của nhiều người. Có thể việc nhìn thấy một người nghèo khiến cho chúng ta bất an và lo lắng, tuy nhiên thay vì giúp đỡ họ, chúng ta lại lựa chọn quay nhìn về hướng khác, bỏ qua và không cần biết đến hoàn cảnh của họ. Đây là biểu hiện của sự trốn chạy thực tại để tìm bình an cho bản thân; một lối sống ích kỷ; một lối sống chỉ biết tìm kiếm sự thịnh vượng cho bản thân và quay lưng lại với sự đau khổ của người khác.
Nói về căn bệnh thờ ơ này của thời đại, tông huấn nhắc lại sự cần thiết của lòng xót thương và con đường bác ái được thực hiện nơi các giáo phụ:
Ngay từ những thế kỷ đầu, các Giáo phụ đã nhận ra nơi người nghèo một con đường ưu tiên để đến với Thiên Chúa, một cách thế đặc biệt để gặp gỡ Người. Lòng bác ái đối với những người túng thiếu không chỉ được xem là một nhân đức luân lý, mà còn là một biểu thức cụ thể của đức tin vào Ngôi Lời Nhập Thể. Cộng đồng tín hữu, được nâng đỡ bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần, bắt nguồn từ việc gần gũi với người nghèo, những người mà họ coi không chỉ là một “phần phụ”, mà là một phần thiết yếu trong thân thể sống động của Chúa Kitô.
Cùng một chiều hướng, thánh Vinh Sơn đã nêu ra sự cần thiết của một người biết chạnh lòng thương trước hoàn cảnh đau khổ của người khác. Bất cứ nơi nào mà Vinh Sơn đi vào trong các đường phố nhộn nhịp nơi Paris, hay ở miền quê, ngài thấy nhiều người đang bị khổ đau do những hậu quả khác nhau và những hình thức nghèo đói đan xen lẫn nhau. Ngài thấy người nghèo vì ngài tìm họ với đôi mắt mở ra. Chúng ta không thể xem việc “nhìn thấy này” của thánh Vinh Sơn là hiển nhiên, vì đó là nhận thức thánh thiện của một người đã chìm ngập trong kinh nghiệm của sự hoán cải sâu sắc.
Từng người trong xã hội quanh ta có thể thấy những người nghèo giống như Vinh Sơn đã nhìn thấy; nhưng không phải tất cả mọi người đều có thể làm được giống như ngài. Không chấp nhận sự lãng tránh và thờ ơ này, thánh Vinh Sơn cho rằng: việc phục vụ người nghèo là một thúc đẩy cấp bách và đó là một đòi buộc đức tin không thể né tránh. Ngài nói:
Hãy nghĩ về gánh nặng sẽ chất lên vai chúng ta trong giờ chết, nếu chúng ta không có lòng thương xót. Khi thăm viếng người nghèo, chúng ta phải cảm thông cũng như chịu đau khổ cùng với họ và chúng ta phải mặc lấy tâm tình như vị Tông đồ vĩ đại đã nói: “Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người” (1 Cr 9,22). Nếu chúng ta đồng cảm với nỗi đau của anh chị em mình, chúng ta sẽ không bao giờ phải chịu những lời đáng sợ của vị ngôn sứ xưa: “Nỗi sầu riêng, mong người chia sớt, luống công chờ, không được một ai; đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu” (Tv 69,21). Sau đó, chúng ta phải làm mềm lòng mình ra để trở nên nhạy bén nỗi đau khổ và khốn quẫn của người lân cận. Chúng ta phải nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta lòng thương xót vốn là lòng thương xót của chính Người; bởi lẽ như Giáo Hội dạy, đặc tính riêng biệt của Thiên Chúa là thương xót và ban tặng lòng thương xót ấy cho dân Người. Vậy hỡi anh em, chúng ta hãy có lòng thương xót, và biểu lộ lòng thương xót ấy trong mọi sự, sao cho chúng ta không bao giờ phải gặp người nghèo mà không biết an ủi họ; cũng như khi gặp một người dốt nát, chúng ta phải biết nói một vài lời có sức khơi dậy lòng tin và dạy cho người ấy những gì cần thiết để được cứu độ. Anh em hãy nài xin Thiên Chúa đổ đầy lòng thương xót trên anh em để nếu có bất cứ ai gặp gỡ một nhà truyền giáo thì họ có thể nói rằng: “Đây là một con người đầy lòng thương xót”. Sau cùng, chúng ta hãy suy ngẫm điều này: chúng ta cần lòng thương xót biết bao. Chúng ta phải biểu lộ lòng thương xót cho người khác trong mọi hoàn cảnh, và phải chịu đựng mọi sự vì mục tiêu ấy.
Như vậy cảm thức về lòng xót thương đối với những người nghèo trong tông huấn Dilexi Te và trong linh đạo của thánh Vinh Sơn là một đòi buộc của đức tin. Nó không tùy thuộc vào việc tôi muốn hay không muốn, cũng không phải là cảm xúc lựa chọn mang tính luân lý: thương xót hay bỏ mặc. Đúng hơn sự đòi buộc này bắt nguồn từ niềm tin vào lòng xót thương của Thiên Chúa: chính Thiên Chúa đã yêu thương con người trước và Người mời gọi chúng ta cũng phải trao gửi lòng thương xót ấy đến cho tha nhân. Đó là con đường giúp con người đến gần với Thiên Chúa hơn và cũng là con đường trở nên giống như Chúa Giêsu Kitô hơn. 3. Hành động bác ái một cách thiết thực và hiệu quả.
Việc nhận ra nỗi đau khổ của người nghèo và một cảm thức dâng trào về lòng thương xót chưa phải là một hành vi bác ái trọn vẹn. Đúng hơn, những cảm xúc ấy phải được cụ thể hóa bằng những hành động mang tính thiết thực và cụ thể. Toàn bộ chương thứ II trong tông huấn Dilexi Te là những phương pháp và hành động cụ thể được đưa ra nhằm giúp đỡ những người nghèo về đủ mọi phương diện. Bằng cách nêu ra hàng loạt những chứng nhân cụ thể từ thời các giáo phụ cho tới hoạt động bác ái của các thánh nhân trong lịch sử, Tông huấn cho thấy: Giáo Hội không bao giờ là chủ thể đứng ngoài cuộc trước những hoạt động bác ái giúp đỡ người nghèo.
Những hoạt động bác ái này được tông huấn liệt kê như một phương cách giúp đỡ người nghèo cách thiết thực. Đó có thể là việc “chăm sóc các bệnh nhân” (số 49-52); “chăm sóc người nghèo trong đời sống đan tu” (số 53-58); “giải phóng những người bị giam cầm” (số 59-62); “đồng hành với người di dân” (số 73-75); “bên cạnh những người bé mọn nhất” (số 76-79); “thành lập các phong trào bình dân” (số 80-81). Ngoài ra, như là một lời nhắn nhủ sau hết trong công việc thực thi bác ái, đức Giáo Hoàng Lêô một lần nữa khẳng định lại giá trị của công việc bố thí. Đây là một thực hành bác ái đã có từ lâu trong truyền thống của Giáo Hội, tuy nhiên đôi khi đây cũng là điều bị người ta coi thường và hiếm khi thực hành. Đối với họ, điều quan trọng cần làm là nhắm tới một sự giúp đỡ mang tính lâu dài và bền vững hơn là tạm bợ. Tuy nhiên, Tông huấn cho thấy, trong khi chưa thực hiện một phương pháp giải quyết tận căn nào mang tính lâu dài cho người nghèo, thì việc bố thí vẫn còn là một phương thế cần thiết. Việc bố thí ít nhất cũng giúp cho chúng ta cơ hội dừng lại trước người nghèo, nhìn vào mắt họ, chạm vào họ và chia sẻ một phần nào đó của chính mình.
Hơn ai hết, thánh Vinh Sơn là nhà bác ái tuyệt vời không chỉ trong các hành động đơn lẻ, mà còn hệ tại ở khả năng kêu gọi nhiều người cùng hành động. Điểm nổi bật nhất trong chương trình này là sự cộng tác của những người phụ nữ. Về động lực khiến cho thánh nhân thiết lập hội đoàn những người phụ nữ lo cho công việc bác ái, thánh Vinh Sơn kể lại: “Một một ngày chúa nhật kia, khi tôi đang mặc áo lễ, có một người (Cô de la Chassaigne) đến nói với tôi rằng trong một căn nhà cách xa những nhà khác, cách đó một phần tư dặm, hết thảy mọi người đều lâm bệnh, không có một ai khỏe mạnh để giúp đỡ những người kia, và mọi người đều ở trong tình trạng thiếu thốn không thể tả được. Điều đó khiến tôi xúc động mãnh liệt”. Thế rồi trong bài giảng của thánh lễ hôm đó, thánh Vinh Sơn đã đánh động tấm lòng quảng đại của nhiều người và họ lập tức lên đường để giúp đỡ các bệnh nhân. Tuy vậy, sự đáp ứng tức thời cho nhu cầu của gia đình khốn khổ này đã không nhận được sự đồng tình của cha quản xứ vì nó thiếu tổ chức. Tức thì, cha Vinh Sơn suy nghĩ đến chuyện cần phải thực hiện một hội đoàn “bác ái có tổ chức”. Thế là vào ngày 23/8/1617, Hội Bác Ái đầu tiên ra đời với mục tiêu là: giúp đỡ người bệnh nghèo cả về phương diện thể xác lẫn linh hồn. Ngày nay, hội Nữ Tử Bác Ái theo linh đạo của thánh Vinh Sơn không ngừng phát triển và đã hiện diện hầu như khắp nơi trên thế giới để chăm lo cho người nghèo. Từ đó, việc chăm sóc người nghèo và lòng hăng say thực thi công việc bác ái không còn bị giới hạn nơi cá nhân của thánh Vinh Sơn nữa, nhưng đã được mở rộng và truyền sang cho nhiều tâm hồn quảng đại. III. Hướng tới một cách làm bác ái toàn diện hơn trong thời đại mới.
1. Những nguyên nhân gốc rễ của sự nghèo đói trong thời đại mới.
Trong khi nhìn nhận thực trạng đau thương của những người nghèo và điểm qua những hoạt động bác ái trong truyền thống của Giáo Hội, tông huấn Dilexi Te cũng không quên chỉ ra những dạng nghèo đói mới đang diễn ra trong một thời đại mới, đồng thời nêu bật nguyên nhân gốc rễ của nó. Thời nay, xem ra số lượng những người thiếu thốn về phương diện vật chất ngày một ít hơn, nhưng thay vào đó những người nghèo về tinh thần lại trở nên nhiều hơn. Sự cô đơn, trống rỗng và khủng hoảng ý nghĩa cuộc sống là những hình thái mới của tình trạng nghèo khổ.
Về nguyên nhân gây ra tình trạng này, Tông huấn đã không ngần ngại cảnh báo về một nền văn hóa “loại trừ người khác” và dung túng cho nỗi thống khổ của hàng triệu người. Chính điều này làm cho sự bất bình đẳng trong xã hội ngày càng gia tăng, trong đó những người giàu sống tách biệt ra khỏi thế giới của người nghèo.
Ngoài ra, tông huấn cũng chỉ rõ các “cấu trúc tội lỗi” và sự “bất bình đẳng của xã hội” cũng góp phần gây ra tình trạng nghèo khổ của con người. Tông huấn chỉ trích “chế độ độc tài của một nền kinh tế giết người” và thừa nhận rằng “trong khi lợi ích của một số ít tăng theo cấp số nhân, thì lợi ích của đa số ngày càng xa rời”. Sự mất cân bằng này bắt nguồn từ các hệ tư tưởng độc quyền khi chỉ biết bảo vệ lợi ích của cá nhân mà bỏ qua lợi ích của cộng đồng.
Một cấu trúc bất công mà Tông huấn gọi đích danh là “tội lỗi xã hội” “thường bắt nguồn từ một não trạng thống trị” nơi sự ích kỷ và thái độ thờ ơ được coi là chuyện bình thường. Điều này dẫn đến một dạng thức tha hóa, trong đó những lý lẽ biện minh bằng lý thuyết được thay thế cho các hành động cụ thể.
Suy thoái môi trường cũng được Tông huấn nhắc tới như là nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo đói: “chúng ta không thể không xem xét những tác động đến cuộc sống của người dân do sự suy thoái môi trường, do các mô hình phát triển hiện hành và do nền văn hóa vứt bỏ” Bởi vì “sự suy thoái của môi trường và xã hội gây ảnh hưởng đến những con người yếu thế nhất trên hành tinh”.
Dù nhìn nhận ở khía cạnh nào, Tông huấn này của Đức Giáo Hoàng Lêô vẫn kiên định trung thành với đường lối của các học thuyết xã hội Công Giáo trong suốt 150 năm qua; đồng thời tái khẳng định vai trò tối thượng của phẩm giá con người; kêu gọi sống tình liên đới và nguyên tắc hỗ trợ như là kim chỉ nam để giải quyết tình trạng bất công mang tính hệ thống. 2. Những nguyên tắc phát triển con người toàn diện theo linh đạo của thánh Vinh Sơn.
Đối với thánh Vinh Sơn, dù ngài không sống trong thời đại của chúng ta và dù lúc bấy giờ các học thuyết xã hội của Giáo Hội chưa ra đời, nhưng linh đạo của ngài không hề tỏ ra lạc hậu và xa rời với bối cảnh xã hội hiện đại. Những tư tưởng và hành động bác ái của ngài đã chứng minh cho sự gần gũi với các nguyên tắc cơ bản của học thuyết xã hội Công Giáo được nhắc tới trong tông huấn Dilexi Te liên quan tới việc bảo vệ và nâng cao đời sống con người.
Nguyên tắc bảo vệ phẩm giá con người
Đây là nguyên tắc lấy con người làm trung tâm trong mọi hoạt động bác ái xã hội. Theo kinh nghiệm của thánh Vinh Sơn, ngài đã khởi xướng các công việc bác ái, và ngay cả quá trình hoán cải cá nhân của ngài cũng xuất phát từ những hoàn cảnh cụ thể của người nghèo. Ngài nhận ra họ thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa và là tạo vật do Thiên Chúa tạo dựng. Từ đó trở đi, trong mọi trường hợp, ngài luôn ưu tiên nâng cao phẩm giá người nghèo, bảo vệ mạng sống con người và dùng mọi cách để cải thiện cuộc sống của họ.
Nguyên tắc cùng nhau tham gia
Đây là một trong những nguyên tắc cho phép mọi người tham gia vào các hoạt động của xã hội và từ đó có thể lên tiếng thay cho những người nghèo khổ, bị áp bức và đòi lại những quyền cơ bản hoặc bênh vực cho họ, mang lại lợi ích cho họ. Tu Hội Truyền Giáo và Tu Hội Nữ Tử Bác Ái do thánh Vinh Sơn thành lập là bằng chứng cho sự tham gia của những tâm hồn quảng đại dám hy sinh và phục vụ cho người nghèo. Những hội viên đã hăng hái hoạt động trong nhiều lãnh vực khác nhau của xã hội như bệnh viện, trường học, các tổ chức từ thiện…để dễ dàng tiếp cận và cứu trợ những người đau khổ cũng như những người bị xã hội loại trừ.
Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ người nghèo và người dễ bị tổn thương.
Những người nghèo và người dễ bị tổn thương thường là kẻ yếu thế và không thể tự bảo vệ cho mình trước sự tấn công của những người có quyền lực trong xã hội. Vì thế, tình trạng đau khổ của họ càng lúc càng gia tăng hơn vì bị đe dọa, tấn công, áp bức và bóc lột. Chăm lo và đứng về phía người yếu thế là điều mà thánh Vinh Sơn đã làm từ rất sớm trong sứ vụ của mình. Vào năm 1638 ngài đã thành lập một nhà tế bần để chăm sóc trẻ em nghèo và mồ côi, đồng thời mời gọi các Nữ Tử Bác Ái cùng cộng tác. Trong khi phục vụ người nghèo ở nông thôn, thánh Vinh Sơn đã nói với các nhà truyền giáo rằng: “chúng ta hãy cống hiến hết mình với tình yêu mới để phục vụ những người nghèo và thậm chí tìm kiếm những người nghèo nhất, những người bị bỏ rơi nhất.”
Nguyên tắc bình đẳng
Vào cuối thời Trung cổ tồn tại một trào lưu tư duy coi nghèo đói là một lời nguyền và người nghèo là mối nguy hiểm cho xã hội. Chính vì thế người nghèo bị coi thường và mọi hoạt động của họ đều bị cơ quan công quyền kiểm soát một cách chặt chẽ như một kiểm tra một tên tội phạm. Thật ra, phẩm giá của con người là như nhau, dù đó là người giàu hay nghèo, là người có quyền thế hay là một dân thường. Dưới cái nhìn của thánh Vinh Sơn, mọi người đều có quyền được bảo vệ, quyền được tự do và quyền được hưởng hạnh phúc như nhau. Vì thế thánh nhân đã luôn tôn trọng người nghèo trong khi phục vụ họ và ngài cũng mời gọi các hội viên của mình phải phục vụ người nghèo với một lòng khiêm nhường thẳm sâu.
Nguyên tắc công ích
Trong một hoàn cảnh xã hội mà nhiều người chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, Giáo Hội mời gọi con người nhận ra sự liên đới của mình trong mối tương quan với những người khác. Sự phát triển con người một cách toàn diện không thể không liên quan đến sự phát triển lợi ích của cộng đồng. Nói cách khác, mọi người đều phải ý thức trách nhiệm đóng góp vì lợi ích của toàn xã hội. Các tổ chức xã hội liên quan đến lãnh vực kinh tế, chính trị, pháp luật… cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Trong quá trình hoạt động bác ái, thánh Vinh Sơn luôn đặt mối bận tâm phát triển lợi ích cộng đồng lên hàng đầu. Những cơ sở từ thiện, bệnh viện, trường học… do ngài lập nên không nhằm mục đích nào khác hơn là phục vụ cho lợi ích của những người bị bỏ rơi và yếu thế. Nhờ những cơ sở này mà những người nghèo đã nhận được sức sống, niềm vui, sự che chở, và hy vọng cho tương lai của mình.
Như vậy, nếu thông điệp Dilexi Te đã không ngại vạch trần những “tội lỗi xã hội” mang tính hệ thống, điều gây nên tình trạng nghèo đói, thì các nguyên tắc trên đây trong linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn được ví như một giải pháp làm thay đổi hệ thống ấy; Đó là một sự thay đổi toàn bộ chứ không phải chỉ ở một vài khía cạnh. Nó cũng chính là những gì mà linh đạo của thánh nhân đã thực hiện với tính cách ngôn sứ của mình nơi các chiều kích khác nhau của Học thuyết Xã hội của Giáo hội trong thế giới ngày nay.
Kết luận
Sau khi đã phân tích một vài khía cạnh trong linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn dưới góc nhìn của tông huấn Dilexi Te, có lẽ điều khiến cho chúng ta ngạc nhiên nhất chính là sự tương thích đến mức không thể ngờ giữa một bên là mối bận tâm của các vị Giáo Hoàng trong thời đại mới và bên kia là đường hướng mục vụ của một người đã sống cách đây gần 400 năm. Những nguyên tắc thần học, những nhận định và giải pháp cho tình trạng nghèo đói của con người thời nay dường như đã được thánh Vinh Sơn lắng nghe và thi hành, cho dù linh đạo của thánh ngài đã ra đời cách đây gần 4 thế kỷ. Điều đó cho thấy một cái nhìn nhạy bén của thánh nhân trước những đổi thay của thời đại, trong khi vẫn giữ những nguyên tắc căn bản của việc thực thi bác ái.
Phải công tâm nhìn nhận rằng: người nghèo thì thời nào cũng có và Giáo Hội của chúng ta không phải là tổ chức duy nhất chăm lo cho người nghèo. Các tổ chức xã hội trần thế cũng dấn thân vào những công tác từ thiện; Các tôn giáo khác cũng không ngừng kêu gọi các tín hữu của mình thể hiện lòng từ bi và bố thí cho những kẻ túng thiếu. Tuy nhiên, tông huấn Dilexi Te và linh đạo của thánh Vinh Sơn sẽ giúp cho chúng ta nhận ra sự khác biệt trong chính bản chất của hành vi bác ái mà Giáo Hội thực thi đối với người nghèo. Đó chính là đức tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính tình yêu của Thiên Chúa là khởi điểm cho sứ mạng bác ái của Giáo Hội. Tựa đề “Ta đã yêu mến ngươi” của Tông huấn trước hết là một lời mời gọi các tín hữu nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người, đặc biệt là những người nghèo khổ bé mọn. Sau đó, tông huấn gửi sứ điệp đánh thức trái tim Tin Mừng nơi từng Kitô hữu, để họ trở về căn tính của mình trong lòng Giáo Hội, một Giáo Hội của tình yêu và lòng thương xót. Nói cách khác, điều làm nên nét đặc trưng trong toàn bộ hành vi bác ái của người Kitô phải là sự kết hợp không thể tách rời giữa đức tin và hành động xót thương.
Trong bối cảnh ngày nay, việc thực thi bác ái luôn có những khó khăn và thuận lợi tùy theo môi trường khác nhau. Nhờ vào thông điệp Dilexi Te và linh đạo bác ái của thánh Vinh Sơn, người Kitô hữu sẽ thận trọng, sáng suốt và nhạy bén hơn trong việc nhận ra ai là người nghèo và cái gì là tình trạng nghèo đói của con người trong thời đại mới. Chuyện nghèo đói ngày nay không còn dừng lại ở chuyện thiếu thốn cái ăn, cái mặc hoặc nhu cầu vật chất nữa, mà nó còn được mở ra với biết bao sự đau khổ khác trong tinh thần và tâm hồn. Do đó, không nhất thiết phải giàu có mới có thể ban tặng những điều quý giá cho tha nhân; không nhất thiết phải có nhiều thời gian rãnh rỗi mới có thể chăm sóc cho những con người đang đau khổ.
Một con tim biết thổn thức và đồng cảm trước cảnh khổ đau của tha nhân, cùng với lòng nhiệt thành thực thi bác ái là hành trang cần thiết cho sứ vụ của người thừa sai rao giảng Tin Mừng. Yêu mến người nghèo, nâng đỡ và đứng về phía người nghèo mà một đòi buộc của Tin Mừng. Điều mà thánh Vinh Sơn luôn nhắc nhở các thừa sai trong tu hội của mình mỗi khi thực hành bác ái là hãy nhận ra hình ảnh của Chúa Giêsu nơi người nghèo. Đối với ngài, người nghèo không chỉ là đối tượng của lòng thương xót mà chính là hiện thân sống động của Chúa Giêsu. Chính ở điều này mà tông huấn Dilexi Te đã nhấn mạnh đến một sự đổi mới trong cách nhìn của chúng ta về người nghèo: họ không còn là đối tượng nhận lãnh nhận sự bố thí một cách thụ động nữa, nhưng chính họ là thầy, là chủ thể dạy chúng ta sự cần thiết phải canh tân đời sống theo tinh thần của Tin Mừng.
Ngày nay, dù cho những nổ lực của chúng ta trong sứ mạng phục vụ người nghèo vẫn còn gặp rất nhiều những trở ngại và khó khăn, nhưng với tất cả lòng quảng đại và hăng say nhiệt thành, chúng ta hãy trao phó mọi việc làm bác ái của mình trong sự quan phòng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Bởi đó, chính trong lời kết của Tông huấn Dilexi Te, đức Giáo Hoàng Lêô đã chỉ ra sức mạnh biến đổi nhờ vào tình yêu Kitô giáo: nó có thể biển đổi những gì là “không thể” theo cái nhìn của con người thành “có thể” theo chương trình của Thiên Chúa:
Tình yêu Kitô giáo xô đổ mọi rào cản, mang những người xa cách lại gần nhau, kết nối những người xa lạ và hòa giải kẻ thù. Nó vượt qua những vực thẳm mà con người không thể vượt qua, và nó thâm nhập vào những khe kín ẩn nhất của xã hội. Tự bản chất, tình yêu Kitô giáo có tính ngôn sứ: nó thực hiện những phép lạ và nó không biết các giới hạn. Nó biến những điều tưởng chừng như không thể thành có thể. Tình yêu tiên vàn là một cách nhìn cuộc sống và là một cách sống. Một Giáo hội không đặt ra giới hạn cho tình yêu, không biết đến kẻ thù nào để chiến đấu, nhưng chỉ biết yêu thương con người, đó là Giáo hội mà thế giới hôm nay đang cần.
Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 197: AAS 105 (2013), 1102. Về tình yêu dành cho người nghèo, 1657, O.C., xi, 387. Về tình yêu dành cho người nghèo, 1657, O.C., xi, 273. Cf. Dilexi Te, Đức Giêsu, Đấng Messiah nghèo khó, số 18-23. Về tinh thần đức tin, O.C., xi, 725 Cf. Dilexi Te, Một Giáo Hội Dành Cho Người Nghèo, số 35-36. Đức Phanxicô, Buổi tiếp kiến với đại diện của các phương tiện truyền thông (16.3.2013): AAS 105 (2013), 381. Cf. Dilexi Te, Chứng Nhân Của Nghèo Khó Tin Mừng, số 63-68. Về Đức Khó Nghèo, ngày 13 tháng 8 năm 1655, O.C., xi, số 156 Ibid, ngày 6 tháng 8 năm 1655, O.C., số 140 – 141 Cf. Dilexi Te, Tiếng Kêu Của Người Nghèo, số 8 - 12. Cf. Dilexi Te, Những Định Kiến Mang Tính Ý Thức Hệ, số 13-15. Cf. Dilexi Te, Người Samari Nhân hậu, thêm một lần nữa, số 105-107. Dilexi Te, Các Giáo Phụ Và Người Nghèo, số 39. Về Đức Bác Ái, ngày 30 tháng 5 năm 659, O.C., XI, 560. Dilexi Te, Các Giáo Phụ Và Người Nghèo, số 39-48. Cf. Dilexi Te, Việc Bố Thí Hôm Nay, số 115-118. Cf. Dilexi Te, Tiếng Kêu Của Người Nghèo, số 11-12. Cf. Dilexi Te, Tiếng Kêu Của Người Nghèo, số 11. Cf. Dilexi Te, Cấu trúc tội lỗi tạo ra tình trạng nghèo đói cùng cực và bất bình đẳng, số 92. Cf. Dilexi Te, Cấu trúc tội lỗi tạo ra tình trạng nghèo đói cùng cực và bất bình đẳng, số 93. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 43: AAS 107 (2015), 863 Sđd., số 48: AAS 107 (2015), 865.