Bài thuyết trình Thường huấn linh mục năm 2026: Tông huấn Dilexi Te - "Sứ mạng của người Kitô hữu, người nghèo được nghe Tin Mừng "

Thứ hai - 21/09/2026 05:28
NỘI DUNG
 
DẪN NHẬP
1. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA BA NGÔI NHƯ KHỞI ĐIỂM VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA SỨ MẠNG
1.1. Thiên Chúa là Tình Yêu: tình yêu liên vị
1.2. Tình Yêu Thiên Chúa Như Khởi Điểm Của Sứ Mạng
1.3. Tình Yêu Thiên Chúa Như Cùng Đích Của Sứ Mạng
2. “TÌNH YÊU ĐỨC KITÔ THÚC BÁCH CHÚNG TÔI” (2Cr 5,14)
2.1. Tình Yêu Đến Cùng Của Chúa Giêsu
2.2. Sứ Mạng Trong Tình Yêu Của Các Tông Đồ Và Cộng Đoàn Kitô Hữu Tiên Khởi 
2.3. Giáo Hội Thi Hành Sứ Mạng Trong Tình Yêu
2.4. Các Thánh Được Nhắc Trong Tông Huấn
3. “NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC NGHE TIN MỪNG” (Mt 11,5)
3.1. “Người Nghèo” Theo Tông Huấn Dilexi Te
3.2. Ưu tiên rao giảng Tin Mừng cho người nghèo
3.3. Sứ Mạng Của Người Kitô Hữu: “Người Nghèo Được Nghe Tin Mừng”
KẾT
 

DẪN NHẬP
 

Trong bầu không khí năm mục vụ 2025-2026 với chủ đề: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai “anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14), giáo phận Qui Nhơn suy tư về chính sứ mạng của mình trong từng người tín hữu. Mỗi Kitô hữu là ánh sáng cho mọi người chung quanh. Để trở nên ánh sáng thật sự của Chúa Kitô, mỗi tín hữu được mời gọi cầu nguyện; đọc, suy niệm và học hỏi Thánh Kinh; hun đúc lòng nhiệt thành truyền giáo và sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội cách hữu ích để loan báo Tin Mừng.1 Trong tâm thế đó, cuộc thường huấn này mời gọi các linh mục giáo phận dùng Tông huấn Dilexi Te của Đức Thánh Cha Lêô XIV soi dẫn đường hướng truyền giáo trong công cuộc làm cho Tin Mừng được lan rộng khắp nơi trong toàn giáo phận.

Khi đọc Tông huấn Dilexi Te, ánh sáng mà người môn đệ mang lấy chính là ánh sáng tình yêu đến từ Thiên Chúa. Ánh sáng ấy cần được lan tỏa đến cho mọi người, đặc biệt là cho “người nghèo” theo cái nhìn của Tông huấn này. “Người nghèo” trở nên trung tâm cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội, của chính Giáo Hội địa phương. Chúa Giêsu đã nói: “người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có” (Ga 12,8; Mc 14,7; Mt 26,11). Và Ngài đã nói lên chính sứ mạng của Ngài là “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18-19) và khi Gioan Tẩy Giả sai các môn đệ của ông đến hỏi Chúa Giêsu có là Đấng Messia phải đến không, Ngài đã nhấn mạnh: “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5). Giờ đây, Ngài mời gọi người tín hữu tiếp tục sứ mạng đó của Ngài cho đến ngày tận thế.

Những số đầu của Tông huấn này làm vang vọng trong mỗi người môn đệ về nguồn mạch, động lực và việc thi hành sứ mạng: “Khi chiêm ngắm tình yêu của Đức Kitô, “chúng ta cũng được thúc đẩy quan tâm hơn đến nỗi khổ và nhu cầu của tha nhân, và được củng cố trong nỗ lực tham dự vào công trình giải phóng của Người như những khí cụ để lan tỏa tình yêu của Người.”[2] Dựa trên nền tảng là sứ mạng của chính Chúa Giêsu, người môn đệ được mời gọi tái khám phá tình yêu Thiên Chúa như là nguồn mạch và là cùng đích của sứ mạng. Trong thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ, chúng ta được dạy rằng: “chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1Ga 4,7) và “ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 14,21). Thứ đến, Tình yêu Đức Kitô trở nên động lực để người Kitô hữu thi hành sứ mạng: “tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi” (2Cr 5,14). Và cuối cùng, vì mang trong mình tình yêu của Đức Kitô, người môn đệ chủ động loan báo Tin Mừng: “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5).

 

1. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA BA NGÔI NHƯ KHỞI ĐIỂM VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA SỨ MẠNG

 
Trong chương I của Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo, chúng ta được nghe biết về kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại. Nơi ấy, chúng ta được mạc khải rằng con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn gốc và là cùng đích của con người. Vì tình yêu, Thiên Chúa thiết lập mối tương quan giữa Người với chúng ta và mời gọi chúng ta ở trong tương quan đó với Người để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Cũng bằng tình yêu Thiên Chúa hành động trong thế gian: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Tông huấn Dilexi Te tái khẳng định điều đó và muốn đẩy xa hơn khi nhấn mạnh Thiên Chúa là tình yêu xót thương. Với ánh nhìn đầy xót thương và trái tim đầy yêu mến, Thiên Chúa quay về phía các thụ tạo của mình và chăm lo tình trạng nghèo nàn của chúng.[3]
 

1.1. Thiên Chúa là Tình Yêu: tình yêu liên vị

 
Dựa trên định nghĩa hạn hẹp trong khả năng của con người theo thánh Gioan tông đồ, Thiên Chúa là Tình Yêu (x.1Ga 4,16). Câu định nghĩa này nói lên chính bản tính của Thiên Chúa, đồng thời cũng nói lên chính trọng tâm của đời sống Kitô hữu.

Bản tính của Thiên Chúa là Tình Yêu có nghĩa là sự hiện hữu của Người là tình yêu. Tình yêu ấy được thể hiện trong suốt công trình sáng tạo và cứu chuộc nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa trào tràn đến nỗi Người đã tự tạo dựng vũ trụ này và tự mạc khải chính mình cho con người nhận biết Người. Tình yêu đó còn nâng con người chỉ là thụ tạo lên địa vị con Thiên Chúa, cho con người mỏng dòn được hưởng sự sống đời đời. Và để con người không lần mò trong đêm tối để tìm biết Người, Thiên Chúa tự tỏ lộ chính mình qua Con Một, Chúa Giêsu Kitô : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3,16-17). Qua Đức Giêsu Kitô – hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, Thiên Chúa mang hình hài của một Đấng đi tìm và trao ban: “trong Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa là Đấng đi tìm ‘những con chiên lạc’, là nhân loại khổ đau và lầm lạc” và “Ngài trao ban chính mình để nâng con người dậy và cứu rỗi con người”.[4] Từ đó, Đức Bênêđictô XVI nói rằng để có thể hiểu được Thiên Chúa là tình yêu, chúng ta cần khởi đi từ định nghĩa: Thiên Chúa là Đấng tìm kiếm và trao ban. Đó cũng chính là bản chất của tình yêu đích thực.

Bản tính này của Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đến một chiều kích mang lại ý nghĩa lớn lao cho nhân loại. Đó là chiều kích liên vị. Thiên Chúa mà chúng ta đang nói tới là Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Gioan đã định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu và đồng thời ngài cũng đề cập tới Ba Ngôi làm nên tình yêu ấy. Ngài nói rằng: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1Ga 4,9). Đồng thời ngài còn nói: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta” (1Ga 3,24; 4,13). Cho nên, các giáo phụ dạy rằng: Chúa Cha là Người yêu, nguồn tình yêu; Chúa Con là Người được yêu, lãnh nhận tình yêu và trao ban tình yêu; Chúa Thánh Thần là tình yêu viên mãn giữa Cha và Con, là mối dây ràng buộc tình yêu. Vì vậy, khi nói đến Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu, tự trong nội tại có chủ thể tình yêu, đối tượng được yêu.

Và rồi, tại sao khi nói “Thiên Chúa là tình yêu” là trọng tâm của đời sống Kitô hữu? Thánh Gioan một lần nữa nói với chúng ta: “chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 14,16). Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu xác quyết thêm rằng: “Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta là một vấn đề căn bản đối với cuộc sống và đặt ra những câu hỏi quan trọng: Thiên Chúa là ai và chúng ta là ai.”[5] Cho nên, trọng tâm của đời sống Kitô không gì khác hơn chính là cuộc gặp gỡ và đáp trả tình yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, “là Kitô hữu không phải là hệ quả của một lựa chọn luân lý hay một lý tưởng cao quý, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố, một người; một cuộc gặp gỡ trao ban cho cuộc sống một chân trời mới và qua đó là một hướng đi có tính chất quyết định.”[6]

 

1.2. Tình Yêu Thiên Chúa Như Khởi Điểm Của Sứ Mạng

 
Toàn bộ Thánh Kinh như là bức thư tình Thiên Chúa gửi cho con người. Nơi ấy, người tín hữu đọc thấy Thiên Chúa luôn đi bước trước trong tình yêu: để chia sẻ hạnh phúc viên mãn với Người, Thiên Chúa tạo dựng con người; khi con người đánh mất sự sống đời đời, Người sai Con Một đến hiến mình làm giá chuộc muôn đời; khi con người sa ngã bất trung, Người đến tìm kiếm, tha thứ và phục hồi phẩm giá. Điều này đã được thánh Gioan khẳng định: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta” (1Ga 4,10). 

Nơi chương hai của Tông huấn Dilexi Te, Đức Thánh Cha Lêô XIV tóm lược cho chúng ta kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại trong lịch sử cứu độ và trong Kinh Thánh. Thiên Chúa thân hành đến với con người qua Ngôi Hai Thiên Chúa: Chúa Giêsu nhập thể làm người, chia sẻ thân phận hữu hạn, giải phóng con người khỏi tội lỗi.[7] Đức Thánh Cha dùng chữ “nghèo” để mô tả sự hữu hạn của con người từ thể xác cho đến tinh thần. Để thể hiện tình yêu cụ thể của mình, Chúa Giêsu đã sinh hạ trong khung cảnh thiếu thốn mọi điều kiện. Người nếm trải hành trình rao giảng rày đây mai đó mà không có một mái nhà ổn định: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20; Lc 9,58). Người đã kinh nghiệm cùng một thân phận bị loại trừ mà người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ phải chịu.[8] Và trên thập giá, Người chia sẻ sự nghèo khó tận cùng của chúng ta, tức là cái chết.[9]

Sứ mạng cứu độ hầu giải thoát con người khỏi tình trạng “nghèo”xuất phát từ Thiên Chúa được Công Đồng Vatican II khẳng định trong Ad Gentes: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là người được sai đi, vì chính Giáo Hội được khởi sinh từ việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần được sai đến theo ý định của Thiên Chúa Cha. Ý định này tuôn trào từ ‘mạch suối yêu thương’ nghĩa là tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng chính là Cội nguồn nguyên thủy, bởi Ngài Chúa Con được sinh ra, và cũng bởi Ngài và nhờ Chúa Con mà phát xuất Chúa Thánh Thần, cũng là Đấng vì lòng nhân từ thương xót vô biên nên khi tạo dựng và hơn nữa khi ưu ái mời gọi chúng ta tham dự vào sự sống và vinh quang của Ngài, đã rộng rãi tuôn đổ và còn không ngừng tuôn đổ lòng nhân từ xuống cho chúng ta, đến độ Đấng tác tạo muôn loài lại trở nên ‘mọi sự trong mọi người’ (1 Cr 15,28), để Ngài được vinh hiển và đồng thời chúng ta được hạnh phúc.”[10] Đây là giáo thuyết căn bản mà Giáo Hội muốn các thừa sai phải nắm vững trên hành trình loan báo Tin Mừng. Chúa Cha sai Chúa Con và Chúa Thánh Thần đến thế gian để thực hiện ý định làm cho nhân loại được hạnh phúc bằng cách giải thoát họ khỏi tình trạng tội lỗi và sự chết. Sứ mạng của Thiên Chúa được diễn tả trong các từ ngữ: “mạch suối yêu thương”, “lòng nhân từ”, “hạnh phúc”. Những từ ngữ này cũng nói lên mong ước của nhân loại. Chính trong tình trạng của mình, con người khao khát được yêu thương, được cảm thông, được hạnh phúc. Đây cũng phản ánh trình trạng thiếu thốn thật sự của nhân loại hôm nay.

Vì vậy, GLHTCG số 257 nói với chúng ta rằng: “Thiên Chúa là tình yêu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa tự ý muốn truyền thông vinh quang của sự sống hạnh phúc của Ngài. Đó là “kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) mà Ngài đã cưu mang từ trước khi tạo dựng trần gian trong Con yêu dấu của Ngài. […] Kế hoạch này là ân sủng “Ngài đã ban cho chúng ta từ muôn thuở” (2 Tm 1,9), xuất phát trực tiếp từ tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Kế hoạch đó được thể hiện trong công trình tạo dựng, và sau khi con người sa ngã, trong toàn bộ lịch sử cứu độ, trong các sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, được tiếp nối trong sứ vụ của Hội Thánh.”

 

1.3. Tình Yêu Thiên Chúa Như Cùng Đích Của Sứ Mạng

 
Thiên Chúa yêu thương con người đến mức Người dựng nên con người giống hình ảnh Người. Đây chính là phẩm giá cao quý nhất của con người. “Vì lý do nào Chúa đã đặt con người vào một phẩm giá cao trọng như vậy? Chính tình yêu khôn tả đã khiến Chúa nhìn đến thụ tạo của Chúa nơi chính Chúa, Chúa đã ‘say mê’ nó; vì tình yêu Chúa đã dựng nên nó, vì tình yêu Chúa đã cho nó hiện hữu, để nó nếm được sự Tốt lành vĩnh cửu của Chúa” (GLHTCG số 356). Lời của Thánh Catarina thành Siêna, trong Đối Thoại Với Thiên Chúa Quan Phòng, được Giáo Hội lập lại trong Giáo Lý. Thiên Chúa muốn chúng ta nếm hạnh phúc trong chính Chúa. Thiên Chúa chính là nguồn cội hay nói cách khác là “cùng đích tối hậu” [11] cho cuộc lữ hành trần thế này. Vậy, tình yêu Thiên Chúa cũng chính là nguồn cội mà con người cần phải hướng đến.

Chúng ta lần nữa đọc lại lời của thánh Gioan Tông Đồ: “Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4,16). Làm sao để con người có thể ở lại trong tình yêu Thiên Chúa? Chính Chúa Giêsu dạy rằng mọi hành động yêu thương dành cho tha nhân, theo một cách nào đó, đều phản ánh đức ái đối thần: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, đó là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Thật rõ ràng, vì tha nhân được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, chúng ta yêu thương tha nhân chính là yêu thương Thiên Chúa. Ở đây chúng ta nhận ra một điều rằng hệ quy chiếu cuối cùng của đời sống con người là hướng về Thiên Chúa. Cho nên, khi thực hiện tình yêu, con người cũng quy chiếu về Tình Yêu Thiên Chúa.

Thêm vào đó, con người được mời gọi khám phá nguồn gốc và cùng đích của cuộc đời mình nơi sự hiệp thông yêu thương của Thiên Chúa, vì nơi đó Ba Ngôi yêu thương nhau và chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Và cũng chính nơi đó, việc hoàn thành con người toàn diện trong Đức Kitô khi làm cho mình trở nên giống Đức Kitô Cứu Thế, con người sẽ thấy mình đúng là thụ tạo mà Chúa đã muốn và đã chọn từ đời đời, đã gọi tới hưởng ân sủng và vinh quang trong mầu nhiệm sung mãn mà họ được chia sẻ nhờ Đức Giêsu Kitô.[12] Điều này được Giáo Hội tái khẳng định trong Thông điệp Magnifica Humanitas rằng con người được dựng nên để tương quan và được Thiên Chúa đưa vào mối hiệp thông với Người.[13]

 

2. “TÌNH YÊU ĐỨC KITÔ THÚC BÁCH CHÚNG TÔI” (2Cr 5,14)

 
Động lực chính yếu để Chúa Giêsu, các Tông Đồ, các thánh và các tín hữu thực thi sứ mạng là Tình Yêu Thiên Chúa. Qua mẫu gương yêu thương đến cùng của Đức Giêsu Kitô, mọi nhà thừa sai đều được thúc đẩy chia sẻ Tin Mừng cứu độ đến cho mọi người, ở đây nhấn mạnh đến “người nghèo”.
 

2.1. Tình Yêu Đến Cùng Của Chúa Giêsu

 
Khi đọc toàn bộ Tông huấn Dilexi Te, việc yêu thương người nghèo đều đến từ mẫu gương của Chúa Giêsu. Tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại được thể hiện rõ trong hành trình rao giảng của Người: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: ‘Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.’” (Mt 9,36-38). Lần khác, Người không muốn giải tán đám đông trong đói khát vì sợ họ kiệt sức trên đường về, dẫn đến việc Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ hai để nuôi bốn ngàn người (x. Mt 15,32; Mc 8,2). Tình yêu ấy thúc đẩy Chúa Giêsu áp dụng câu Thánh Vịnh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.” (Tv 69,10). Và tình yêu đạt đỉnh điểm khi Chúa Giêsu bước vào cuộc thương khó và Vượt Qua để cứu độ nhân loại. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, thánh Gioan mô tả: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Người đã làm một cử chỉ “rửa chân” cho những kẻ sắp phản bội, chối Thầy, bỏ trốn. Tất cả những hình ảnh này được các Tông Đồ sau này tâm niệm và thực hành theo bằng cách nào đó để phục vụ việc rao giảng Tin Mừng. Chính vì thế, có thể nói mẫu gương tình yêu hiến mình vì tha nhân đã trở thành nguồn động lực cho nhưng ai được mời gọi thi hành sứ mạng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

Và để hiểu rõ động lực thôi thúc Chúa Giêsu yêu nhân loại đến cùng, chính Người đã mạc khải cho chúng ta rằng tình yêu thôi thúc Người thi hành sứ vụ giữa loài người chính là tình yêu Người đã nghiệm thấy khi kết hợp mật thiết với Chúa Cha.[14] Vì vậy, lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa đã thúc đẩy Người hành động, đồng thời đã cho chúng ta chìa khoá để hiểu các hành động ấy, nay trở nên gần gũi con người đến nỗi chúng mang dáng dấp của một con người, tên là Giêsu, tức là Ngôi Lời đã thành xương thành thịt.[15]

 

2.2. Sứ Mạng Trong Tình Yêu Của Các Tông Đồ Và Cộng Đoàn Kitô Hữu Tiên Khởi

 
Với một tình yêu mãnh liệt mà các Tông Đồ đặt vào Thầy Chí Thánh của mình, Phêrô và Gioan đã trả lời với các vị trong Thượng Hội Đồng Dothái: “Nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa, xin hỏi: trước mặt Thiên Chúa, điều ấy có phải lẽ không? Các ông thử xét xem! Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,19-20). Các Tông Đồ chấp nhận bị bắt cầm tù, ngăm đe, cấm cách và đánh đòn, tuy nhiên “các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5,41). Các vị lãnh đạo Dothái lúc đó nhận xét về các Tông Đồ là những người “không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân” (Cv 4,13). Họ rất ngạc nhiên bởi đâu mà các Tông đồ lại có được mạnh dạn nói về Đức Giêsu Kitô như vậy. Kết quả của việc thi hành sứ mạng trong tình yêu của Đức Kitô nơi các Tông đồ: “Mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Giêsu” (Cv 5,42); “cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ (Cv 2,47) và “Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông đàn bà rất đông” (Cv 5,14).

Theo mô tả của thánh Luca, các Kitô hữu tiên khởi đồng tâm nhất trí, hợp nhất với nhau, để mọi sự làm của chung, bán của cải lấy tiền chia cho mỗi người theo nhu cầu, không ai phải thiếu thốn, đặc biệt là được toàn dân thương mến (x. Cv 2,42-47; 4, 32-35). Phải chăng “được toàn dân thương mến” phải được nhìn thấy nơi chính đời sống chứng tá của các Kitô hữu tiên khởi. Họ đã sống như vậy.

Đặc biệt nơi Tông đồ Phaolô, ngài cảm nghiệm thâm sâu tình yêu Thiên Chúa đã dành cho ngài. Trong thư gửi Roma, ngài nói: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? […] Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,35-39). Chính trong bài ca đức ái, ngài đã khẳng định “không có đức mến”, thì tôi cũng chẳng là gì” (1Cr 13,2), nói gì cũng trống rỗng, làm gì cũng vô ích. Ngài xác quyết đức ái tồn tại vĩnh cửu (1Cr 13,8). Vì vậy, khi hăng say thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng trong tình của Chúa Giêsu Kitô, Tông đồ dân ngoại đã thốt lên: “tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi...” (2 Cr 5,14).


2.3. Giáo Hội Thi Hành Sứ Mạng Trong Tình Yêu
 
Khi nói về động lực của việc truyền giáo, GLHTCG số 851 nói rằng: “Giáo Hội luôn nhận lấy bổn phận và sức mạnh thúc đẩy việc truyền giáo của mình từ chính tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người: Quả vậy, ‘tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi...’ (2 Cr 5,14).” Giáo Hội quả quyết một cách thường hằng rằng mình thực hiện sứ mạng từ chính tình yêu Thiên Chúa. Thật vậy, “trong Đức Kitô, Giáo Hội như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người, vì thế Giáo Hội muốn trình bày rõ ràng hơn cho các tín hữu và cho toàn thế giới chính bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình” (LG 1). Ở đây, chúng ta có thể hiểu rằng sứ mệnh phổ quát của Giáo Hội được thực hiện “trong Đức Kitô”, cho nên, điều này cũng đồng nghĩa “trong tình yêu Đức Kitô”. Chúa Giêsu thiết lập Giáo Hội để tiếp tục sứ mạng của Người, sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó cho Người để mọi ngày cho đến tận thế mọi người nhận ra Thiên Chúa Tình Yêu vẫn luôn cứu độ họ và đưa họ vào hưởng tình yêu trọn vẹn trong Nước Trời. Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến” (Ga 16,27), “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người” (Ga 15,9-10). Nói một cách nôm na, Chúa Con đã hoàn thành tốt đẹp sứ mạng Chúa Cha trao phó, cho nên Chúa Con càng được yêu mến. Đến lượt các tông đồ, các ngài cũng được Chúa Giêsu yêu mến vì hoàn thành sứ mạng một cách trọn vẹn đến nỗi cũng như Thầy mình bằng việc lấy máu đào làm chứng cho tình yêu. Giờ đây, Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô, ý thức hơn nữa về chính sứ mạng mà mình đã lãnh nhận từ Đầu của Nhiệm Thể.

Trong văn kiện Sắc Lệnh Về Hoạt Động Tông Đồ Giáo Dân, Giáo Hội nói rằng: “Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa thúc đẩy họ thực thi điều lành cho tất cả mọi người” và “Hơn nữa tình yêu mà Chúa ‘tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần Người đã ban cho chúng ta’ (Rm 5,5) làm cho người giáo dân có khả năng biểu lộ cách cụ thể tinh thần các mối Phúc Thật trong chính đời sống của mình.”[16] Và khi đọc Tông huấn Dilexi Te, chúng ta lại thấy vang lên lời Giáo Hội đã nói trong sắc lệnh này: “Mọi hoạt động tông đồ đều bắt nguồn và tiếp nhận sức mạnh từ đức ái, tuy nhiên một số công việc tự bản chất rất thích hợp để biểu hiện cách sống động đức bác ái; chính Chúa Kitô cũng đã xem đó là dấu chỉ cho thấy sứ mệnh cứu độ của Người (x. Mt 11,4-5).”[17] Sắc lệnh còn nói thêm về sứ mạng thực thi đức ái nhắm đến người nghèo: “Để việc thực thi bác ái không còn bị chối bỏ và trở thành bác ái đích thực, cần phải thấy nơi tha nhân hình ảnh Thiên Chúa theo đó họ đã được dựng nên, và nhận ra Chúa Kitô, Đấng mà những gì được trao tặng cho người nghèo thật ra là được dâng lên cho chính Người.”[18]


 

2.4. Các Thánh Được Nhắc Trong Tông Huấn

 
Tông huấn Dilexi Te đưa ra vài hình ảnh nơi các thánh làm sáng tỏ nguồn động lực chính yếu khi thi hành sứ mạng và trở nên khí cụ làm lan tỏa tình yêu của Chúa.

Thánh Augustinô để lại một câu nói nổi tiếng: “Hãy yêu rồi làm” (Dilige et quod vis fac).[19] Ngài muốn nói với chúng ta rằng hãy đặt tình yêu Thiên Chúa làm trọng tâm cho mọi việc mình làm. Trong Tông huấn này, Đức Lêô XIV muốn cho chúng ta thấy tư tưởng của thánh Augustinô về tình yêu Thiên Chúa được thể hiện trong việc trở nên Tin Mừng cho người nghèo: “người Kitô hữu đích thực không xao lãng tình thương đối với những người túng quẫn nhất: ‘Quan sát anh chị em mình, bạn biết họ có túng thiếu hay không, nhưng nếu Chúa Kitô ngự trong bạn, thì bạn cũng hãy bác ái với người xa lạ’.” (số 44). Đức Thánh Cha nói thêm rằng “nhận ra nơi người nghèo khuôn mặt của Chúa Kitô, và nhận ra khí cụ của đức ái nơi của cải vật chất”[20] là điểm sáng cho việc được tình yêu thúc đẩy của thánh Augustinô.

Thánh Phanxicô Assisi: lòng yêu thương lớn lao được thể hiện nơi trọn vẹn con người thánh Phanxicô Assisi là yêu thương người nghèo. Đây là một chứng tá Tin Mừng, là họa lại đời sống của chính Chúa Giêsu. Ngài không dùng nhiều lời nói để rao giảng về Chúa Kitô, nhưng ngài dùng chính cung cách sống để truyền tải sứ điệp Tin Mừng đến cho mọi người. Sứ mạng của ngài làm sống động mối phúc đầu tiên mà Chúa Giêsu đã tuyên bố. Đức Lêô XIV nói: “thánh Phanxicô đã khơi dậy một cuộc canh tân theo Tin Mừng nơi các Kitô hữu và xã hội thời bấy giờ. Vốn giàu có và tự tin, chàng trai trẻ Phanxicô đã bị sốc và đã được hoán cải nhờ tiếp xúc trực tiếp với người nghèo và những người bị xã hội ruồng bỏ”(số 7). Từ đó, ngài nhận ra sứ mạng của mình là ở bên người nghèo và liên đới với họ bằng một tình yêu theo gương Chúa Kitô với một tình yêu đầy trắc ẩn. Chúng ta cần phải suy tư và thấm nhuần những lời này của Tông huấn: “Cuộc đời của ngài là một cuộc đời không ngừng trút rỗng chính mình: từ dinh thự đến người phung cùi, từ hùng biện đến thinh lặng, từ sở hữu đến trao tặng tất cả. Phanxicô không thành lập một tổ chức dịch vụ xã hội, mà là một đời sống huynh đệ theo Tin Mừng. Ngài nhìn thấy nơi người nghèo là những anh chị em mình, những hình ảnh sống động của Chúa. Sứ mạng của ngài là ở bên họ, và ngài làm như thế với một tình liên đới vượt qua các khoảng cách, và với một tình yêu thương đầy trắc ẩn.” (số 64).

Về thánh Đaminh, Đức Thánh Cha nói như sau: “Ngài muốn rao giảng Tin Mừng với thẩm quyền rút ra từ một đời sống khó nghèo, xác tín rằng Chân Lý cần những chứng tá chính trực. Gương sống nghèo khó của họ đi kèm với Lời mà họ rao giảng.” Bằng một tình yêu dành cho Đức Kitô thật sự, thánh Đaminh muốn cảm nghiệm Tin Mừng từ chính những người nghèo. Vì vậy, ngài muốn sống giữa những người nghèo để học biết chân lý Phúc Âm (số 66).

Về Mẹ Têrêsa Calcutta, Tông huấn mô tả như sau: “Mẹ Têrêsa không coi mình là một nhà từ thiện hay một nhà hoạt động, mà là một hiền thê của Chúa Kitô chịu đóng đinh, phục vụ các anh chị em đau khổ của mình với trọn tình yêu thương.” (số 77). Cuộc đời của Mẹ Têrêsa “đã trở thành một biểu tượng phổ quát của lòng bác ái được sống ở mức trọn vẹn nhất vì những người khốn khổ nhất, những người bị xã hội vứt bỏ.”[21] Tình yêu thúc đẩy Mẹ thực hiện sứ mạng dấn thân cho những người nghèo khổ nhất. Một tình yêu mà Mẹ kín múc từ Chúa Giêsu Thánh Thể và Thánh Tâm. Mẹ đã đưa ra cho mình một phương châm: Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện; hoa trái của cầu nguyện là đức tin; hoa trái của đức tin là tình yêu; hoa trái của tình yêu là sự phục vụ.

 

3. “NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC NGHE TIN MỪNG” (Mt 11,5)

 
Khi tháp nhập vào Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô là Giáo Hội qua bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu mang trong mình chính sứ mạng của Chúa Kitô. Sứ mạng mà ngay trong hội đường Nazaret Chúa Giêsu đã công bố hôm nay được ứng nghiệm: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18). Và rồi, khi trả lời cho các môn đệ của Gioan, Chúa Giêsu xác quyết một lần nữa: “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5). Sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo được Chúa Giêsu ưu tiên hàng đầu như Người đã từng công bố trong Hiến Chương Nước Trời hay còn gọi Tám Mối Phúc: “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Vì vậy, sứ mạng đó vẫn là sứ mạng ưu tiên hàng đầu cho mỗi người môn đệ của Chúa Kitô hôm nay.
 

3.1. “Người Nghèo” Theo Tông Huấn Dilexi Te

 
“Người nghèo” theo nghĩa thông thường là những người thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống: thiếu lương thực thực phẩm, thiếu nơi ở. Đức Phanxicô, trong Tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, đã đề cập đến các hình thức mới của tình trạng nghèo khó: những người vô gia cư, những người nghiện ngập, những người tỵ nạn, những dân tộc bản địa, những người già đang ngày càng bị cô lập và bỏ rơi, và nhiều thành phần khác.[22] Theo Tông Huấn này, những kiểu nghèo mới được nhận dạng:[23]
 
  • Cái nghèo của những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và thiếu phương tiện để lên tiếng cho phẩm giá và cho những khả năng của mình:
  • Cái nghèo đạo đức và tâm linh,
  • Cái nghèo văn hóa,
  • Cái nghèo của những người thấy mình trong tình trạng yếu đuối hoặc mong manh về mặt cá nhân hay xã hội,
  • Cái nghèo của những người không có quyền, không có chỗ, không có tự do.
     
Tông huấn cũng nhắc lại một văn kiện của Cộng Đồng Châu Âu năm 1984: “‘người nghèo’ được hiểu là những cá nhân, gia đình và nhóm người mà nguồn lực của họ (về vật chất, văn hóa và xã hội) hạn chế đến mức loại trừ họ khỏi lối sống tối thiểu được chấp nhận ở các Quốc gia Thành viên nơi họ sinh sống.” (số 13).
 

3.2. Ưu tiên rao giảng Tin Mừng cho người nghèo


Trong khuôn khổ bài này, chúng ta không khảo cứu về phương diện thần học, sứ mạng rao giảng Tin Mừng là điều được đề cập ở phần này. Khi đặt câu hỏi “Tại sao người nghèo lại là ưu tiên hàng đầu của công cuộc rao giảng Tin Mừng?” Câu hỏi này dấy lên một điều “phải chăng Thiên Chúa thiên vị người nghèo.” Có người lo lắng rằng việc lựa chọn người nghèo của Thiên Chúa sẽ loại trừ những người khác. Cha Joseph Wresinski lý giải sự lựa chọn của Thiên Chúa không mang tính loại trừ, nhưng phổ quát: Chúa chọn người nghèo để cứu rỗi tất cả mọi người. Ngài cho ví dụ: nếu chúng ta xây dựng từ những người mạnh mẽ nhất, sẽ có người bị gạt ra bên lề. Ngược lại, nếu chúng ta bắt đầu từ những người yếu thế nhất, cuối cùng tất cả sẽ có chỗ. Đây là một thông điệp mạnh mẽ: Xây dựng Giáo hội và xã hội bắt đầu từ những người bé mọn là cách duy nhất để tất cả mọi người đều có chỗ đứng.[24]

Toàn bộ Tông huấn Dilexi Te trình bày cho chúng ta rằng người nghèo có một ví ưu tiên đặc biệt trong Thiên Chúa. Thế nhưng, điểm nổi bậc vẫn là tình yêu quảng đại của Thiên Chúa dành cho người nghèo. Toàn bộ Kinh Thánh diễn tả một vị Thiên Chúa đầy yêu thương luôn đứng về phía người nghèo, những ai yếu thế, đau khổ và thiếu thốn. Chính Chúa Giêsu trong toàn bộ sứ mạng của Người là đến với người nghèo: hiện diện, giải phóng, chữa lành, nối lại mối dây hiệp thông và trao ban sự sống thần linh. Đối lại, người nghèo là những con người mong muốn được giải phóng khỏi những thương tích của đời sống, được chữa lành mọi vết thương do thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, được nối lại mối dây hiệp thông với cộng đồng.

Vậy, lựa chọn ưu tiên loan báo Tin Mừng cho người nghèo là một lựa chọn xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa, Đấng không thiên tư tây vị. Và hơn nữa, lựa chọn này là cốt lõi trong sứ mạng của Chúa Giêsu và Giáo Hội. Khi bắt đầu rao giảng tại hội đường Nazaret, Chúa Giêsu đã mượn lời ngôn sứ Isaia để khẳng định: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18). Trong suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu luôn đồng hành, ăn uống, chữa lành và bênh vực những người nghèo khổ, bệnh tật và bị xã hội bỏ rơi. Ngài đặt họ ở vị trí trung tâm trong sứ mạng rao giảng. Giáo Hội được thiết lập để tiếp tục sứ mạng của chính Chúa Giêsu. Đức Lêô XIV nhấn mạnh Giáo Hội “như một ngọn hải đăng của ánh sáng Tin mừng để soi sáng tâm hồn” (Dilexi Te, số 103). Cho nên, việc loan báo Tin Mừng cho người nghèo phải là căn tính của Giáo Hội. Và thật sự là thế, “ánh sáng muôn dân là chính Chúa Kitô, đang chiếu tỏa trên khuôn mặt Giáo Hội, để Tin Mừng được loan báo cho mọi loài thụ tạo (x.Mc 16,15)” (LG 1).

 

3.3. Sứ Mạng Của Người Kitô Hữu: “Người Nghèo Được Nghe Tin Mừng”

 
Bàng bạc trong suốt Tông huấn này, nếu đọc kỹ, người Kitô hữu nhận thấy rằng không chỉ có những điều mang tính thời sự của một tình yêu mà Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải có với người nghèo, mà nơi đó, còn nói với những môn đệ của Chúa đang hiện diện trong thế gian này những phương cách để thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Vì khi nhận diện những kiểu nghèo mới theo sự tiến triển của đời sống con người, Giáo Hội tiếp tục mời gọi từng thành viên của mình dấn thân vào chính sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu, đặc biệt dành cho “người nghèo”.

3.3.1. Sự Hiện Diện Giữa Người Nghèo

Với cuộc nhập thể của Chúa Giêsu, Người đã hiện diện giữa nhân loại nghèo khó. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,5). Chúa Giêsu đã sống giữa nhân loại tại làng Nazaret, cùng chia sẻ thân phận con người với nhân loại.

Sự hiện diện của người tín hữu giữa người nghèo có nghĩa là cùng sống với họ, cùng chung chia hoàn cảnh khốn cùng của họ. Một con tim yêu mến luôn thúc đẩy người thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng phải ở ngay trong lòng của cuộc sống. Giống như Chúa Giêsu, người mang Tin Mừng phải đụng chạm đến chính đời sống của người đang lắng nghe Tin Mừng. Mẹ Têrêsa Calcutta nói: “Những người nghèo của chúng ta là những con người vĩ đại, những con người rất đáng yêu, họ không cần lòng thương hại và sự ‘xót xa tội nghiệp’ của chúng ta, họ cần tình yêu thương đầy cảm thông của chúng ta” (số 77). Làm sao có thể cảm thông nếu người rao giảng không ở trong chính đời sống của họ. Người Việt chúng ta có câu thành ngữ: “ở trong chăn, mới biết chăn có rận.” Cha Frédéric-Marie Le Méhauté[25] kể lại khoảnh khắc cụ thể trong hành trình truyền giáo: “Một buổi tối, tôi nghe các em nói: ‘Cha Frédéric là một người da trắng không giống những người khác’. Tôi hỏi tại sao. Một cậu bé trả lời: ‘Bởi vì cha chấp nhận ăn cơm với chúng con’.” Ngài nhận định rằng chén cơm nhạt nhẽo đó lại là một dấu chỉ của tình huynh đệ đối với các em. Không cần những bài diễn thuyết dài dòng: chỉ cần ở lại, chia sẻ, ngồi xuống cùng với họ. Người nghèo không cần nhiều lời, nhưng là sự hiện diện. Chính ở nơi đó một Thiên Chúa gần gũi được mặc khải.

Trong Tông huấn này, việc hiện diện giữa người nghèo bằng những hành động cụ thể như:

 
  • Chăm sóc người ốm đau: Lòng trắc ẩn của Kitô giáo đã biểu lộ cách riêng trong việc chăm sóc người bệnh và người đau khổ. Truyền thống Kitô giáo về việc thăm viếng người bệnh, rửa vết thương cho họ, và an ủi những người đau khổ không chỉ đơn thuần là một việc từ thiện, mà còn là một hành động của Giáo hội, qua đó các thành viên Giáo hội “chạm vào xác thân đau đớn của Chúa Kitô” (số 49)
     
  • Giải phóng tù nhân: Giáo Hội đã xem việc giải phóng những người bị áp bức là một dấu chỉ của Nước Thiên Chúa. Việc giải phóng các tù nhân là một diễn tả của tình yêu Ba Ngôi: một Thiên Chúa giải thoát không chỉ khỏi ách nô lệ thiêng liêng mà còn khỏi sự áp bức cụ thể (các số 59-60).
     
  • Việc giáo dục người nghèo: Tri ​​thức có sức giải phóng, mang lại phẩm giá, và đưa chúng ta đến gần chân lý hơn. Hơn nữa, giáo dục luôn là một trong những diễn tả cao nhất của lòng bác ái Kitô giáo. Bởi vì, chúng ta không thể giảng dạy mà không yêu thương. Giáo dục Kitô giáo không chỉ đào tạo nên những người chuyên nghiệp, mà còn đào tạo nên những con người cởi mở với chân, thiện, mỹ. Vì thế, bằng cách kết hợp đức tin và văn hóa, các trường này gieo mầm tương lai, tôn vinh hình ảnh Thiên Chúa và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn (các số 68-72).
     
  • Hỗ trợ những người bé mọn nhất: Những người nghèo nhất trong số những người nghèo – là những người thiếu thốn không chỉ của cải vật chất, mà còn thiếu cả tiếng nói và sự nhìn nhận phẩm giá của họ – có một chỗ đặc biệt trong trái tim Thiên Chúa. Hình ảnh Mẹ Têrêsa như khuôn mẫu: thu nhận những người bị bỏ rơi, rửa sạch vết thương của họ và đồng hành với họ cho đến giờ chết, với lời cầu nguyện ân cần trìu mến (các số 76-79).
     
Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại văn kiện Aparecida: “Lớn lên trong những hoàn cảnh bấp bênh, học cách sống còn trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, tín thác vào Chúa với sự chắc chắn rằng không ai khác trân trọng mình, và giúp đỡ lẫn nhau trong những khoảnh khắc đen tối nhất, người nghèo đã học được nhiều điều mà họ cất giấu trong lòng. Những ai trong chúng ta chưa có những trải nghiệm tương tự về cách sống này chắc chắn có thể học được nhiều điều từ nguồn khôn ngoan là kinh nghiệm của người nghèo. Chỉ bằng cách đối chiếu những phàn nàn của chúng ta với những đau khổ và thiếu thốn của họ, chúng ta mới có thể kinh nghiệm một sự khiển trách có sức thách thức chúng ta phải đơn giản hóa lối sống của mình.” (số 102).

3.3.2. Thái Độ Quan Tâm Đến Người Khác

Thái độ quan tâm là điều cần thiết của công cuộc làm cho người nghèo được nghe Tin Mừng. Thật vậy, “sự quan tâm yêu thương này là khởi đầu của một mối quan tâm đích thực đối với con người của họ, điều này sẽ thôi thúc tôi tìm kiếm thiện ích cho họ. Nghĩa là, trân trọng người nghèo trong lòng tốt của họ, trong kinh nghiệm sống của họ, trong văn hóa của họ, và trong cách sống đức tin của họ” (số 101).

Trong Tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, Đức Phanxicô nói rằng sự dửng dưng làm cho con người trở nên vô cảm trước tiếng kêu của người nghèo, không còn có thể khóc trước nỗi đau của người khác hay cảm thấy cần cứu giúp họ, coi như tất cả đều là trách nhiệm của một ai khác chứ không phải của chính chúng ta.[26] Đức Lêô XIV thì cảnh báo rằng “chúng ta không được mất cảnh giác về vấn đề nghèo đói. Chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến những hoàn cảnh nghiêm trọng mà nhiều người đang phải đối mặt do thiếu lương thực và nước uống” (số 12). Hơn thế nữa, khi đối diện với một thứ văn hóa loại trừ đến nỗi thờ ơ hoặc thiếu ý thức, con người chấp nhận làm ngơ việc hàng triệu người chết đói hoặc sống trong những điều kiện không xứng hợp với con người.[27]

Chính vì thế, Mẹ Têrêsa Calcutta nói rằng: “Chúng tôi muốn loan báo Tin Mừng cho người nghèo rằng Thiên Chúa yêu thương họ, rằng chúng ta yêu thương họ, rằng họ quan trọng đối với chúng ta, rằng họ cũng được tạo dựng bởi cùng một bàn tay yêu thương của Thiên Chúa, để yêu thương và được yêu thương. Những người nghèo của chúng ta là những con người vĩ đại, những con người rất đáng yêu, họ không cần lòng thương hại và sự ‘xót xa tội nghiệp’ của chúng ta, họ cần tình yêu thương đầy cảm thông của chúng ta. Họ cần chúng ta tôn trọng; họ cần chúng ta đối xử với họ như một người có phẩm giá.”[28]


Bài học quan tâm này phải làm cho chúng ta được thôi thúc từ bên trong, từ Tin Mừng. Chúa Giêsu đã quan tâm đến những người bị gạt ra bên lề xã hội: phong cùi, đui mù, què quặt, nhất là những con người tội lỗi. Những con người mà ngày hôm nay chúng ta đang xem họ ở trong tình trạng nghèo về thể lý, tinh thần và niềm tin tôn giáo. Vì vậy, Đức Lêô XIV mời gọi không một Kitô hữu nào có thể xem người nghèo chỉ là một vấn đề xã hội; họ là một phần của “gia đình” chúng ta. Họ là “một trong chúng ta”. Ngài tái khẳng định dành cho “người nghèo” sự quan tâm yêu thương là điều Chúa Giêsu đã đề nghị trong hành động và trong lời nói của Người.[29] Thánh Grêgôriô Cả nhắn nhủ chúng ta: “Người phú hộ kia không bị trừng phạt vì đã lấy của người khác, nhưng bởi vì trong khi sở hữu khối tài sản to lớn như vậy, ông ta đã hóa ra nghèo nàn trong lòng. Đây thực sự là lý do khiến ông bị kết án xuống hỏa ngục: trong sự sung túc của mình, ông ta không còn ý thức về công lý; của cải mà ông nhận được khiến ông kiêu ngạo và làm cho ông mất hết lòng trắc ẩn.[30]

3.3.3. Thăng Tiến Phẩm Giá Con Người

Công Đồng Vaticanô II dạy rằng con người đã được tạo dựng “theo hình ảnh của Thiên Chúa” có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng tạo dựng mình. Hơn nữa, Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ, và việc họ sống chung với nhau nói lên tình liên đới nhân vị. Thật vậy, tự bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính và nếu không tương quan với tha nhân, con người không thể sống cũng như không thể phát triển các phẩm chất của mình được.[31] Và trong mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô, phẩm giá con người được làm sáng tỏ bởi vì qua mầu nhiệm này Chúa Giêsu đã liên kết với tất cả mọi người. Người đã làm việc với đôi tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu thương bằng quả tim con người.[32] Thêm vào đó, Người hiện diện trong từng con người. Cho nên, người nghèo cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào vẫn có một phẩm giá với mọi người.

Tuyên Ngôn Về Phẩm Giá Con Người (Dignitas Infinita, 2-4-2024) của Bộ Giáo Lý Đức Tin, ngay dòng đầu tiên đã nói: “Mỗi con người đều có một phẩm giá vô hạn, được đặt nền tảng vững chắc trong chính hữu thể của mình, và phẩm giá này chiếm ưu thế trong và ngoài mọi hoàn cảnh, trạng thái hoặc tình huống mà con người có thể gặp phải” (số 1). Trong Tuyên ngôn này, Giáo Hội tái khẳng định phẩm giá hữu thể học của con người, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô. Và vì thế, Giáo Hội theo đuổi sự dấn thân của mình với những người yếu đuối và những người ít có quyền lực, luôn nhấn mạnh đến “tính tối thượng của con người và việc bảo vệ phẩm giá của họ trong mọi hoàn cảnh.”[33] Trong phần 4 của Tuyên ngôn này, Bộ Giáo Lý Đức Tin nêu lên những vi phạm nghiêm trọng về nhân phẩm:[34]

 
  • Tất cả các tội chống lại chính sự sống, như giết người, diệt chủng, phá thai, an tử và cố ý tự sát.
  • Tất cả những vi phạm đến sự toàn vẹn của con người, chẳng hạn như cắt xẻo, tra tấn về thể xác và tinh thần, những áp lực tâm lý quá mức.
  • Tất cả các hành vi vi phạm nhân phẩm, chẳng hạn như điều kiện sống dưới mức nhân bản, bỏ tù tùy tiện, trục xuất, làm nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, điều kiện làm việc xuống cấp nơi các cá nhân bị coi như công cụ kiếm lợi chứ không phải là những con người tự do và có trách nhiệm.
  • Một trong những hiện tượng đóng góp đáng kể vào việc phủ nhận phẩm giá của rất nhiều người là tình trạng nghèo đói cùng cực. Không có sự nghèo đói nào tệ hại hơn tình trạng nghèo đói cướp đi việc làm và phẩm giá của việc làm.
  • Chiến tranh, các cuộc tấn công khủng bố, đàn áp chủng tộc hoặc tôn giáo, và nhiều hành vi xúc phạm phẩm giá con người.
  • ‘Môi trường kỹ thuật số cũng là một nơi của sự cô đơn, bị thao túng, bóc lột và bạo lực, thậm chí đến trường hợp cực đoan là ‘mạng lưới đen tối’.
     
Khi vạch trần những vi phạm nghiêm trọng phẩm giá con người, Giáo Hội nhiệt thành thúc giục việc tôn trọng phẩm giá con người trong mọi hoàn cảnh phải được đặt ở trung tâm của việc dấn thân vì công ích và ở trung tâm của mọi hệ thống pháp luật.[35] Đồng thời Giáo Hội cũng khuyến khích việc thăng tiến phẩm giá của mỗi con người, bất kể thể lý, tinh thần, văn hóa, xã hội và đặc điểm tôn giáo. Giáo Hội thực hiện điều này với niềm hy vọng, tin tưởng vào sức mạnh tuôn chảy từ Chúa Kitô Phục sinh, Đấng đã mạc khải đầy đủ phẩm giá toàn diện của mọi người nam nữ.[36]

Vì vậy, sứ mạng của người Kitô hữu làm cho mọi người luôn thừa nhận rằng mọi con người đều có cùng phẩm giá. Một cách đặc biệt, những “người nghèo” luôn có một chỗ đặc biệt trong Trái Tim Thiên Chúa. Và, không tội lỗi, thất bại, sự sỉ nhục hay loại trừ nào có thể làm giảm giá trị sâu xa của một sự sống con người mà Chúa đã muốn và kêu gọi vào hiện hữu.[37] Cho nên, Tông huấn Dilexi Te tái khẳng định: “Đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn gần gũi với người nghèo và những người bị ruồng bỏ, là nền tảng cho mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành viên bị lãng quên nhất trong xã hội” (số 23).

3.3.4. Thực Thi Lòng Thương Xót (các số 24-34)

Tông huấn trình bày giáo huấn của Chúa Giêsu về tính tối thượng của tình yêu đối với  Thiên Chúa được nhấn mạnh rằng con người không thể yêu mến Thiên Chúa mà không mở rộng tình yêu của mình cho tha nhân, đặc biệt là người nghèo. Tình yêu đối với tha nhân là bằng chứng hữu hình cho thấy sự chân thực của tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa.[38] Việc con người mở lòng ra đối với người nghèo là hành vi thương xót mà Chúa Giêsu nhiều lần dạy chúng ta trong Tin Mừng. Tuy nhiên, hành vi thương xót này phải là một hành vi vô vị lợi giữa những người yêu thương nhau. Chúa Giêsu khuyên: “Khi anh em đãi tiệc, đừng mời bạn bè, anh em, bà con hay láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại anh em, và anh em được đáp lễ. Nhưng khi anh em đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, và anh em sẽ được phúc, vì họ không có gì đáp lễ cho anh em” (Lc 14,12-14). Chúng ta thể hiện lòng thương xót đối với những người không có khả năng đáp trả lại chúng ta. Đấy cũng là cách thế giúp ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thiên Chúa biết chúng ta không có khả năng đáp trả tình yêu cứu chuộc mà chính Chúa Giêsu đã dùng chính mạng sống mình khi chịu treo trên thập giá để chúng ta được ơn tha tội và được sống đời đời.

Hành vi thương xót đạt đến đỉnh điểm khi người tín hữu đọc thấy dụ ngôn vĩ đại về cuộc phán xét cuối cùng (x. Mt 25,31-46). Những ai tỏ lòng thương xót đối với người đói khát, ốm đau, trần truồng, khách lỡ đường và tù đày vì họ là những hiện thân của Chúa Giêsu thì được hưởng Vương Quốc của Thiên Chúa. Còn những kẻ không biết tỏ lòng thương xót những người nêu trên thì bị đẩy vào Hỏa Ngục vì họ không nhận ra phẩm giá nơi những con người bé mọn đó: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40.45). Và qua dụ ngôn này, chúng ta nhận thấy hành vi thương xót được thể hiện một cách cụ thể qua hành vi bác ái: cho người đói khát ăn uống (Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống), cho người không cửa không nhà được trú ngụ (Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước), cho người không có bất một thứ gì để che thân được bảo vệ an toàn (Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc), cho người đau khổ về thể lý được an ủi bằng cách viếng thăm (Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng), cho người tù đày được niềm hy vọng vì vẫn được tôn trọng (Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han).

Cho nên, hành vi thương xót không chỉ là một việc làm của lòng trắc ẩn, mà nó đến từ đức tin. Thánh Giacôbê nói trong thư của ngài: “Hỡi anh chị em, nếu nói rằng mình có đức tin mà không hành động, thì nào có ích gì? Đức tin có thể cứu anh chị em được ư? Nếu có người anh em hay chị em nào trần truồng và thiếu của ăn hằng ngày, mà có ai nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no,’ mà lại không cung cấp cho những nhu cầu thể chất của họ, thì nào có ích gì? Vậy, đức tin, nếu không có hành động, thì quả là đức tin chết” (2,14-17).

3.3.5. Cái Nhìn Đúng Đắn Về Việc Làm Từ Thiện Hay Bố Thí

Ở phần kết của Tông huấn, chúng ta được lưu tâm một cách rõ ràng đến vấn đề làm từ thiện hay làm phúc bố thí. Giáo Hội xem đây là một phương thức cần thiết để tiếp xúc, gặp gỡ và đồng cảm với những người kém may mắn hơn. Tuy nhiên, trong thế giới hôm nay, việc làm này không nhận được sự quan tâm tích cực lắm, kể cả giữa các tín hữu. Cho dù vậy, Giáo Hội vẫn xem đây là cách thức quan trọng nhất để giúp đỡ những người yếu thế là hỗ trợ họ tìm được một công việc tốt, để họ có thể sống một cuộc sống có phẩm giá hơn bằng cách phát triển khả năng của mình và đóng góp tương xứng.[39] Ý thức được vị trí của việc làm này trong sứ mạng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho con người: “chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16), Giáo Hội lý giải sự cần thiết của nó giữa một thế giới chủ trương chủ nghĩa cá nhân quá mức, chủ nghĩa hưởng thụ và tiêu dùng hoặc sự cuồng nhiệt chú trọng lợi ích cá nhân:

 
  • Chúng ta không thể liều lĩnh bỏ mặc người khác với số phận thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu cho một cuộc sống có phẩm giá (số 115).
  • Những ai được thúc đẩy bởi lòng bác ái đích thực đều hiểu rõ rằng việc bố thí không miễn trừ trách nhiệm, không xóa bỏ nghĩa vụ chăm sóc người nghèo. Việc bố thí ít nhất cũng cho chúng ta cơ hội dừng lại trước người nghèo, nhìn vào mắt họ, chạm vào họ và chia sẻ một phần nào đó của bản thân với họ (số 116).
  • Việc bố thí, dù khiêm tốn đến đâu, cũng mang đến một chút tấm lòng (pietas) vào một xã hội vốn in dấu sự cuồng nhiệt theo đuổi lợi ích cá nhân (số 116).
  • Tình yêu và những niềm xác tín thâm sâu nhất của chúng ta cần được không ngừng vun xới, và chúng ta làm như thế qua các hành động cụ thể của mình. Dù dưới bất kỳ hình thức nào, việc bố thí sẽ chạm đến và làm mềm trái tim chai đá của chúng ta. Về phần mình, chúng ta cần bố thí như một cách để vươn ra và chạm đến xác thịt khốn khổ của người nghèo (số 119).
     
Tưởng cũng nên nhắc lại những giáo huấn của Giáo Hội để chúng ta có cái nhìn xác đáng hơn trong việc thực thi việc từ thiện hay bố thí trở nên phương thế loan báo Tin Mừng. GLHTCG số 2447 nói tới việc làm từ thiện là những hành vi bác ái trong cả hai phương diện tinh thần và thể xác. Về phương diện tinh thần: dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ; về phương diện vật chất: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết. Tuy nhiên, việc bố thí cho người nghèo được nhấn mạnh nhất vì nó là một chứng tá sống động về tình yêu Kitô giáo.[40] Hơn nữa, Chúa Giêsu Kitô nhận biết những kẻ được tuyển chọn của Người căn cứ vào những gì họ đã làm cho những người nghèo. Khi “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5), thì đó là dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô.[41]

3.3.6. Đồng Hành Với Di Dân

Nơi Tông huấn này, người di dân cũng được xem như một dạng thức mới của người nghèo. Bởi vì, họ có nguy cơ bị loại trừ, bị bóc lột và mất đức tin ở một vùng đất xa lạ. Đức Phanxicô đã lên án những nơi vì sợ mất đi bản sắc địa phương mà không dám mở cửa đón tiếp, vì thái độ nghi kỵ mà không dám tiếp nhận một văn hóa mới. Vì vậy, ngài đã nhắc lại rằng sứ mạng của Giáo Hội đối với người di cư thậm chí còn rộng lớn hơn, nhấn mạnh rằng “sự đáp trả của chúng ta trước những thách thức do hiện tượng di cư ngày nay có thể được tóm tắt trong bốn động từ: chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập.”[42]

Giáo Hội, hay nói rõ hơn là từng thành viên của Giáo Hội, được mời gọi bước đi với di dân. Trước tiên, họ là con cái của Thiên Chúa, mang hình ảnh của Chúa Kitô. Thứ đến, họ là cơ hội mà Chúa Quan phòng ban cho chúng ta để giúp xây dựng một xã hội công bằng hơn, một nền dân chủ hoàn hảo hơn, một đất nước đoàn kết hơn, một thế giới huynh đệ hơn, và một cộng đoàn Kitô hữu cởi mở hơn và có chất Tin Mừng hơn. Tiếp đến, nơi họ, chúng ta thể hiện tình liên đới trong một gia đình duy nhất của Thiên Chúa. Cuối cùng, lời công bố Tin Mừng của người môn đệ chỉ đáng tin cậy khi được chuyển dịch thành những cử chỉ ân cần tiếp đón. Và chúng ta biết rằng nơi mỗi người di cư bị từ khước, chính Chúa Kitô đang gõ cửa chúng ta.[43]

3.3.7. Phúc Âm Hóa Chính Mình Nhờ Người Nghèo

Trong dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu nói với những người cả bên hữu lẫn bên tả: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tông huấn nói đây không chỉ là lòng từ tâm thuần túy có tính nhân loại, mà là một mặc khải: việc tiếp xúc với những người thấp hèn và bất lực là một cách cơ bản để gặp gỡ vị Chúa của lịch sử. Trong người nghèo, Người vẫn tiếp tục nói với chúng ta.[44] Quả thật, đây là một công cuộc Phúc Âm hóa cho chính người thực thi sứ mạng. Môn đệ không chỉ có việc loan báo Tin Mừng, mà còn phải đón nhận Tin Mừng và nội tâm hóa. Hay nói cách khác, nhà thừa sai khi gặp gỡ, chung chia cuộc sống với người nghèo là chạm đến Chúa Giêsu đang hiện diện nơi họ. Trên những khuôn mặt đầy thương tích của người nghèo, chúng ta thấy nỗi khổ của những người vô tội, và do đó ta thấy nỗi đau khổ của chính Chúa Kitô.

Những ai dấn thân chọn sống giữa người nghèo sẽ trân trọng lòng tốt của họ, chứng kiến kinh nghiệm sống của họ, tiếp xúc và hội nhập văn hóa của họ, cảm nghiệm đời sống đức tin của họ. Trong ánh sáng này, rõ ràng chúng ta để mình được Phúc Âm hóa bởi người nghèo. Thật vậy, qua đời sống bấp bênh và khắc nghiệt, chúng ta học được sự tín thác hoàn toàn vào Chúa; qua những giờ khắc đen tối, chúng ta học được sự giúp đỡ lẫn nhau trong đức ái vô vị lợi; qua những nỗi thống khổ của họ, chúng ta học được việc vác thập giá và hiệp thông đau khổ của mình với Chúa Giêsu trên thập giá.[45]

 

KẾT

 
Tông huấn Dilexi Te khởi đi từ tình yêu Thiên Chúa đến với con người, và rồi con người dùng tình yêu ấy để hướng cuộc đời của mình trở về với Thiên Chúa qua con đường tha nhân. Tình yêu đối với “người nghèo” chiếm vị trí quan trọng trong kế hoạch cứu độ của Người. Thiên Chúa ưu tiên lựa chọn những con người trong tình trạng mong manh nhất để thể hiện một mối tương quan đặc biệt: con cái Thiên Chúa, mang hình ảnh Người. Phẩm giá cao quý mà con người có được là được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Cho nên, cho dù con người ở trong tình trạng nào đi nữa thì phẩm giá ấy vẫn không mất được. Hơn nữa, với việc nhập thể của Chúa Giêsu và tự đồng hóa mình với con người vì chia sẻ thân phận của họ. Chính điều đó, với tình yêu đến cùng, Chúa Giêsu xác nhận phẩm giá của mọi con người.

Đọc Tông huấn này dưới lăng kính truyền giáo, Thiên Chúa mời gọi các con cái của Người nhập cuộc vào sứ mạng làm lan tỏa tình yêu của Người đến với những người yếu đuối, bị khinh miệt, hoặc đau khổ. Các môn đệ của Đức Giêsu Kitô không thể đứng ngoài cuộc trong những nỗ lực để tham gia vào công cuộc giải phóng của Người. Các môn đệ thừa sai trước tiên cần mở lòng để đón nhận chính Chúa Giêsu đang hiện diện trong những con người nghèo cả về vật chất, tinh thần và đức tin. Chính tình yêu của Người thôi thúc chúng ta dấn thân vào chính cuộc sống của những người bé mọn nghèo hèn: hiện diện, chăm sóc, đón nhận, đồng hành, thăng tiến và thực thi đức ái. Một chân trời mới cho sứ mạng làm cho người nghèo được nghe Tin Mừng. Khi biên cương của “cái nghèo” được mở rộng, sứ mạng của người môn đệ được đòi hỏi đi sát với từng cảnh huống của người nghèo.

Để đường hướng của Tông huấn này không dừng lại nơi việc chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa dành cho người nghèo phần ưu ái trong công cuộc cứu độ, chúng ta được mời đi sâu vào chính mầu nhiệm yêu cho đến cùng vì nhân loại của Chúa Giêsu, Đấng tiếp nhận hết thảy mọi người, không loại trừ một ai cho dù thấp hèn nhất, trần trụi nhất và tội lỗi nhất. Đi sâu bằng cách để người nghèo trở nên nguồn Phúc Âm hóa chính mình và chia sẻ đời sống đầy Chúa Giêsu cho họ. Chúng ta cần tái khẳng định rằng: “Phẩm giá con người không phụ thuộc vào khả năng, của cải hay địa vị trong cuộc sống của họ, cũng không phụ thuộc vào những lựa chọn đúng hay sai; thay vào đó, nó là một quà tặng có trước và siêu vượt trên mỗi người, được Thiên Chúa ban cho như biểu hiện của tình yêu bất tuyệt của Ngài. Vì lý do này, con người luôn luôn là “con đường cho Giáo hội” và là trái tim của mọi nẻo đường phát triển nhân bản toàn diện đích thực.”[46]

Hãy để những lời này thúc đẩy những môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu dấn thân mỗi ngày vì sứ mạng: “chúng ta được yêu cầu dành thời gian cho người nghèo, dành cho họ sự quan tâm yêu thương, chú ý lắng nghe họ, sát cánh bên họ trong những lúc khó khăn, chọn sống với họ nhiều giờ, nhiều tuần hoặc nhiều năm, và cố gắng thay đổi hoàn cảnh của họ, bắt đầu từ họ. Chúng ta không được quên rằng đây chính là điều Chúa Giêsu đã đề nghị trong hành động và trong lời nói của Người” (Dilexi Te 104).
 

[1] HỘI ĐỒNG GIÁO MỤC VIỆT NAM, Thư Chung 2025, các số 2-5.
[2] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 2. Cf. PHANXICÔ, Dilexit Nos, số 171.
[3] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 16.
[4] BÊNÊĐICTÔ XVI, Deus Caritas Est (25/12/2015), các số 12-15.
[5] BÊNÊĐICTÔ XVI, Deus Caritas Est, số 2.
[6] BÊNÊĐICTÔ XVI, Deus Caritas Est, số 1.
[7] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 16.
[8] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 19.
[9] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 16.
[10] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Ad Gentes, số 2.
[11] GLHTCG số 229 : “Đức tin vào Thiên Chúa quy hướng chúng ta về một mình Ngài, như về nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu của chúng ta, và không quý trọng sự gì hơn Ngài, hoặc không để một sự gì thay chỗ Ngài.”
[12] ỦY BAN BÁC ÁI XÃ HỘI, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội Công Giáo, các số 34, 58.
[13] LÊÔ XIV, Thông Điệp Magnifica Humanitas (Nhân Tính Cao Cả), 25.5.2026, số 54.
[14] ỦY BAN BÁC ÁI XÃ HỘI, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội Công Giáo, số 29.
[15] ỦY BAN BÁC ÁI XÃ HỘI, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội Công Giáo, số 28.
[16] CÔNG ĐỒNG VACICANÔ II, Sắc Lệnh Về Hoạt Động Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem - 18/11/1965), số 4.
[17] Ibidem, số 8.
[18] Ibidem, số 8.
[19] Augustine, Tractatus in epistulam Johannis 7,8
[20] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 47.
[21] Ibidem, số 77.
[22] PHANXICÔ, Niềm Vui Của Tin Mừng, số 210.
[23] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 9.
[24] RICCARDO BENOTTI, Dilexi te e l’opzione per gli ultimi. P. Le Méhauté: “Senza i poveri, la Chiesa non è se stessa”, https://www.agensir.it/chiesa/2025/10/20/dilexi-te-e-lopzione-per-gli-ultimi-p-le-mehaute-senza-i-poveri-la-chiesa-non-e-se-stessa/ truy cập 11.9.2026, được Mary Ngọc Yến chuyển ngữ (https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/khong-co-nguoi-ngheo-giao-hoi-khong-con-la-chinh-minh).
[25] Frédéric-Marie Le Méhauté là một thần học gia dòng Phanxicô, cha kể câu chuyện này khi cha sống trong một trung tâm dành cho trẻ em đường phố ở Congo.
[26] PHANXICÔ, Niềm Vui Của Tin Mừng, số 54.
[27] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 11.
[28] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 77.
[29] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 104.
[30] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 109.
[31] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Gaudium et Spes, số 12.
[32] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Gaudium et Spes, số 22.
[33] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên Ngôn Về Phẩm Giá Con Người (Dignitas Infinita, 2-4-2024), số 1.
[34] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên Ngôn Về Phẩm Giá Con Người, các số 33-62.
[35] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên Ngôn Về Phẩm Giá Con Người, số 64.
[36] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên Ngôn Về Phẩm Giá Con Người, số 66.
[37] LÊÔ XIV, Thông Điệp Magnifica Humanitas (Nhân Tính Cao Cả), số 52.
[38] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 26.
[39] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 115.
[40] GLHTCG, số 2462.
[41] GLHTCG, số 2443.
[42] LÊÔ XIV, Dilexi Te, các số 73-75; PHANXICÔ, Niềm Vui Của Tin Mừng, số 210.
[43] LÊÔ XIV, Dilexi Te, các số 75.
[44] LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 5.
[45] LÊÔ XIV, Dilexi Te, các số 99-102.
[46] LÊÔ XIV, Thông Điệp Magnifica Humanitas (Nhân Tính Cao Cả), số 50.
 

Tác giả: Lm. Gioan B. Nguyễn Kim Ngân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check