DẪN NHẬP
Trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng vị giáo hoàng của lòng người, của những người nghèo, Đức giáo hoàng Phanxicô đã bày tỏ lòng nhiệt thành, sự khao khát của mình: «Tôi thà có một Hội thánh bị bầm dập, mang thương tích và lem luốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình». Ngài không ngừng mời gọi Giáo hội “đi ra”, rời khỏi vùng an toàn để dấn thân vào “những vùng ngoại biên”, không chỉ là những nơi địa lý bị lãng quên, mà còn là những góc khuất của tâm hồn, nơi hiện hữu của đau khổ, của những người bị bỏ rơi và tuyệt vọng.
Ra đi bằng sự trở về, trở về nguồn Thánh Kinh, nơi mà con người nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo, những người thường bị lãng quên trong văn chương cổ điển, nhưng lại chiếm một chỗ đứng rất quan trọng trong Thánh Kinh. Trở về để thấy được tình yêu của Thiên Chúa dành cho người nghèo. Thiên Chúa tỏ “lòng thương xót của Người trước tiên” cho những người nghèo. Sự ưu ái này của Thiên Chúa có những hệ quả cho đời sống đức tin của người Kitô hữu, vì chúng ta được kêu gọi để có “tâm tình như Chúa Giêsu Kitô” (x. Pl 2,5).
Đó chính là lời cảnh tỉnh và cũng là lời mời gọi cho toàn thể Giáo hội và cho mỗi Kitô hữu trong thời đại hôm nay, biết làm mới lại đức tin của mình, xuất phát từ một cái nhìn đúng đắn, chân thành trong tương quan với người nghèo khổ, bất hạnh. Và từ đức tin đó, họ tiếp tục củng cố và thăng tiến mối tương quan bằng sự phục vụ và lòng yêu mến dành cho chính những người nghèo đó, những người mang nơi mình hình ảnh của Thiên Chúa tốt lành, những người đang cần được sự cảm thông, yêu thương và giúp đỡ.
Từ người nghèo để ra đi rồi quay trở lại với người nghèo không phải là một tình trạng hay một vòng lẩn quẩn không lối thoát, không hướng đi rõ ràng trong đời sống đức tin, trong tương quan với người khác, nhưng là một vòng tròn khép kín, ở đó, con người biết tựa vào nhau, cùng đi với nhau để hướng tới cùng đích đích thật của những người tin vào Chúa dù sống với những ơn gọi và hoàn cảnh khác nhau. Vòng tròn đó không có chỗ cho sự loại trừ, không có kẽ hở cho những biện hộ, cho những sự giả trá hay những hình thức sống đức tin hời hợt, trái lại mỗi người ý thức hơn vai trò trách nhiệm của mình đối với tha nhân, như lời mời của Giáo hội: sự ưu tiên phục vụ người nghèo. Đó cũng chính là lời mời gọi của vị cha chung của Giáo hội hoàn vũ nhằm nhấn mạnh hành động của Thiên Chúa, được thúc đẩy bởi lòng trắc ẩn đối với tình trạng nghèo nàn và yếu đuối của toàn thể nhân loại. Muốn khai mở một vương quốc của công lý, huynh đệ và liên đới, Thiên Chúa dành một chỗ đặc biệt trong trái tim Ngài cho những kẻ bị kỳ thị và áp bức, và Ngài yêu cầu chúng ta, Giáo hội của Ngài, đưa ra một lựa chọn dứt khoát và triệt để ủng hộ những người yếu đuối nhất, để lời chúc phúc của Chúa Giêsu trở nên hiện thực: «Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em» (Lc 6, 20). I. NGƯỜI NGHÈO VÀ MỐI PHÚC VỀ NƯỚC TRỜI
Trong buổi tiếp kiến chung, ngày 29.01.2020, Đức giáo hoàng Phanxicô mời gọi: Hãy đọc các mối phúc để hiểu hạnh phúc là gì. Tám mối phúc thật là đỉnh cao của sứ điệp Tin Mừng của Chúa Giêsu. Khung cảnh của bài giảng trên núi chỉ ra rằng, các mối phúc của Chúa Giêsu dành cho tất cả mọi người. Đức giáo hoàng Phanxicô giải thích: Các mối phúc chiếu sáng cuộc đời của các tín hữu cũng như của nhiều người không có đức tin. Thật khó để không bị đánh động bởi những lời này của Chúa Giêsu, và mong ước hiểu và đón nhận những lời này cách trọn vẹn luôn là điều đúng đắn. Các mối phúc chứa đựng “thẻ căn cước” của người Kitô hữu, bởi vì nó phác thảo gương mặt của chính Chúa Giêsu và cuộc sống của Ngài.
Những lời chúc phúc rất tốt đẹp, là lý tưởng cho đời sống con người trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong nghèo khó. Con người tin vào lời hứa của Chúa vì điều Ngài phán ra, Ngài sẽ thực hiện. Tuy nhiên khi đối diện với thực tế của cuộc sống làm sao giải thích được rằng con người hạnh phúc khi gặp phải những hoàn cảnh sống không tốt lành nếu xét trình bình diện tự nhiên, nhân loại? Đức giáo hoàng Phanxicô giúp hiểu rõ khi ngài nhấn mạnh rằng lý do của mối phúc không xuất phát từ hoàn cảnh hiện tại của họ, nhưng là điều kiện mới để những người được chúc phúc đón nhận ơn Chúa, bởi vì nước Trời là của họ, trong đó có những người nghèo khổ. 1. Người nghèo trong Tin Mừng theo Thánh Luca
Xét trên bình diện văn phong, nếu trong Tin mừng theo Thánh Matthêu, mối phúc thứ nhất dành cho những người có tinh thần nghèo khó: «Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó» (Mt 5,3), thì trong Tin mừng theo thánh Luca, mối phúc này dành cho những người “nghèo khổ” đúng nghĩa, khi sử dụng thuật ngữ Πτωχοί (ptokos), những kẻ ăn mày:
«Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em» (Lc 6, 20)
Có những lý giải cho rằng, ở đây có sự đối kháng giữa hai Tin mừng liên quan đến mối phúc thứ nhất trong bát phúc. Người ta nói, Thánh Matthêu đã tinh thần hóa ý niệm nghèo khó của thánh Luca, một ý niệm được hiểu theo nghĩa vật chất và thực tế, và như thế Thánh Matthêu đã rút đi tính chất triệt để của ý niệm này trong Tin mừng của thánh Luca.
Trong quyển sách, Đức Giêsu Thành Nazareth, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã giải thích rõ ràng rằng không có sự đối kháng nào ở đây cả. Trước hết lời chúc phúc theo Tin mừng thánh Matthêu như là bản tiểu sử nội tâm của Chúa Giêsu, Đấng đến trong nhân loại này với thân phận nghèo thật sự đến nỗi con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (x Mt. 8,20). Các lời chúc phúc phản ánh các mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng là hiện thân của người Tôi Tớ của Giavê, Đấng mặc lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4,15).
Vào năm 2011, trong bài giảng mùa Chay cho giáo triều Roma, Cha Raniero Cantalamessa (trở thành Hồng y từ năm 2020) giải thích rằng, cần phải xác định rõ tinh thần nghèo khó (poveri in spirito) mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin mừng theo Thán Matthêu. Đó không phải là sự nghèo khó về tinh thần mà là những người nghèo thật sự. Quả thật thuật ngữ Hy Lạp được sử dụng có thể được dịch sang nghĩa nghèo khổ, bần cùng như cách sử dụng trong Tin mừng theo thánh Luca. Hơn nữa sự nghèo khổ trong các mối phúc cần được hiểu trong ngữ cảnh, xét trong tương quan với sự giàu có: Khi Chúa nói với các môn đệ: Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời (x. Mt 19,23); hay khi Chúa cảnh báo về những nguy cơ mà những người giàu phải đối mặt nếu không chịu mở tấm lòng bố thí cho những người nghèo như dụ ngôn Lazzaro nghèo và người phú hộ (x. Lc 16, 19 -31).
Đức giáo hoàng Benedicto XVI giải thích thuật ngữ khó hiểu “ai có tâm hồn nghèo khó” dựa theo những yếu tố lịch sử. Theo ngài, thuật ngữ này xuất hiện trong các cuộn sách Qumrân, để chỉ những thành viên trong cộng đoàn của họ. Họ tự coi mình là “những người nghèo của ân sủng”, “những người nghèo của ơn cứu độ” hay ngắn gọn là “các người nghèo”. Và như vậy, những thành viên trong cộng đoàn Qumrân muốn nói rằng chính họ mới là dân Israel đích thật; họ tiếp tục và gắn bó chặt chẽ vào truyền thống bắt nguồn từ niềm tin của Israel, trong đó có quan niệm về sự nghèo khổ. Vào thời điểm dân bị lưu đày ở Babylon, và nhất là khi sống dưới chính sách thu thuế của người Ba-tư, phần đông dân Giu-đa thuộc thành phần nghèo khổ, họ không còn quan niệm sự nghèo khổ xuất phát từ đời sống xấu xa, tội lỗi nữa. Bây giờ người Do Thái họ có quan niệm rằng mình sẽ được gần gũi với Thiên Chúa ngay trong sự nghèo khổ của mình. Như vậy rõ ràng thuật ngữ trong mối phúc thứ nhất theo Tin mừng theo thánh Matthêu cũng muốn nói đến cái nghèo thật sự.
Và ngược lại ai đọc Phúc Âm theo thánh Luca, sẽ thấy rằng thánh nhân trình diện cho chúng ta không chỉ là sự nghèo khó thuần vật chất mà cả “các người nghèo trong tinh thần”. Họ là những nhóm xã hội đầu tiên đón nhận con đường và sứ điệp của Chúa Giêsu.
Tác giả tin mừng theo thánh Luca không chú tâm trình bày các sứ điệp cho người Do Thái mà cho những Kitô hữu gốc ngoại giáo; không cố ý trình bày Chúa Giêsu như là Môi-sen mới. Bài giảng trên núi nơi Tin mừng theo thánh Luca được trình bày sau việc kêu gọi 12 tông đồ, những người được gọi với danh tính rõ ràng. Sau đó Chúa Giêsu bước xuống núi và dừng lại trên một khoảng đất bằng. Theo chú giải của Hồng y Joseph Ratzinger, việc đứng lại biểu lộ sự cao quý và thẩm quyền của Đức Giêsu, còn đồng bằng biểu lộ khoảng không gian rộng lớn để âm vang tiếng nói, lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Thánh Luca nhấn mạnh rằng, ngoài nhóm Mười Hai, những người cùng với Chúa Giêsu từ trên núi xuống, còn có “một số đông” các môn đệ từ những miền khác nhau đến để nghe Chúa Giêsu giảng.
Qua đó chúng ta thấy được ý nghĩa phổ quát của bài giảng trên núi: những ai đón nhận lời rao giảng của Chúa Kitô, là những người nghèo ân sủng, khát khao bước theo Chúa Giêsu trong niềm tin để đón nhận ơn cứu độ chứ không chỉ dừng lại ở cái nghèo vật chất hay chỉ nhắm đến những con người nghèo khó thật sự. Điều này được giải thích cách rõ ràng hơn từ vị giáo hoàng người Đức: «Sự nghèo nàn về vật chất không cứu độ được, cho dù sự thua thiệt trong thế giới này lôi kéo cách đặc biệt lòng thương xót của Thiên Chúa. Tâm hồn của những kẻ trắng tay có thể chai cứng, bị đầu độc, trở nên xấu xa – trong thâm tâm đầy sự thèm khát của cải, quên dần Thiên Chúa và bị của cải bên ngoài xâu xé».
Như vậy khi sử dụng thuật ngữ Πτωχοί (ptokos), tác giả Tin mừng theo thánh Luca, một mặt hướng đến những người nghèo đúng nghĩa, những người không có gì cả; gặp rất nhiều những khó khăn, vất vả, nặng nhọc trong cuộc sống; sống nhờ vả, phụ thuộc vào sự bố thí, vào những của cho từ người khác, mặt khác tác giả cũng nhằm trình bày đến chiều kích đức tin. Những người nghèo được chúc phúc không phải vì hoàn cảnh nghèo của họ, không phải vì những công trạng hoặc những việc làm tốt đẹp xét trên bình diện luân lý nhưng xuất phát bởi Thiên Chúa, một vị vua công bình, bảo vệ những ai không được bảo vệ, xét theo quan niệm trong cựu ước: “người nghèo là những “người được đức vua bảo vệ”. Người nghèo luôn là đối tượng được Thiên Chúa bảo vệ, chăm sóc và quan tâm. Những người nghèo là hệ quả của một sự bất công xã hội nào đó, là nạn nhân của áp bức và bóc lột, bị tước mất phẩm giá. Chính vì thế Thiên Chúa là Cha, Ngài xót xa và cảm thương họ đến độ đau khổ cùng họ (x. Xh 2,25), trở nên đấng cứu độ và báo oán cho họ (Tv 72,12-14).
Đức giáo hoàng Lêô XIV gợi lên hình ảnh của một Thiên Chúa được trình bày như người bạn và Đấng giải phóng người nghèo, Đấng lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và can thiệp để giải thoát họ (x. Tv 34,7). Ngài đã trích lại tư tưởng của Đức giáo hoàng Phanxicô: «Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện rõ nét qua việc Ngài bảo vệ những kẻ yếu đuối và nghèo khổ, đến mức có thể nói rằng Ngài dành một sự ưu ái đặc biệt cho họ: «Trái tim Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt cho người nghèo… Toàn thể lịch sử cứu chuộc chúng ta được đánh dấu bằng sự hiện diện của người nghèo».
Tuy nhiên thuật ngữ nghèo sẽ bị giải thích cách hàm hồ theo truyền thống, nếu quá nhấn mạnh đến hoàn cảnh và tình trạng nghèo mà ít đề cập đến đặc tính của nước Thiên Chúa. Các mối phúc trước hết là một mạc khải về lòng thương xót và sự công bình, là những điều làm rõ nét Nước Thiên Chúa. Chúng chứa đựng mạc khải về Thiên Chúa hơn là về con người hay tình trạng nghèo.
Ngược lại một khi phớt lờ đi hoàn cảnh, tình trạng nghèo, một sự hiểu sai có thể xảy ra khi cho rằng Thiên Chúa đang thực hiện một điều “ích kỉ”; lợi dụng hoàn cảnh nghèo của người khác và biến điều đó thành cơ hội để làm nổi danh của bản thân; để bày tỏ sự công bình cao cả của mình. Rõ ràng đó không phải là ý của tác giả, bởi lẽ phạm trù “công trạng” và “nhân đức” đáng ra phải được thay bằng phạm trù “đức tin”. Thiên Chúa không hành động ủng hộ người nghèo vì công trạng hay những tâm thái đạo đức của họ, nhưng vì tình trạng của họ sẵn sàng nhất để tin. Thiên Chúa ban ơn, chúc phúc cho con người, nhất là những người nghèo, những người bị bỏ rơi gắn liền với một sự đáp trả. Người nghèo nhận ra và đón nhận sự ban tặng ưu đãi này của Thiên Chúa đặt nền tảng trên niềm tin như Thánh Giacôbê nói: «Nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời để họ trở nên những người giàu đức tin sao?» (Gc 2,5).
Vì lẽ đó sự nghèo khó được nhắc trong Tin mừng theo thánh Luca không bao giờ là một hiện tượng thuần vật chất, trái lại là một tâm hồn luôn gắn liền với niềm tin. Lời chúc phúc được ban, hướng đến những người dù sống trong hoàn cảnh nghèo nhưng dám phó thác đời mình cho Chúa, tin vào Chúa và khao khát Nước Thiên Chúa được trị đến: Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân (x. Gr 17,7-8). Đó chính là những anawim trong lịch sử cứu độ của dân Chúa, biểu tượng và kiểu mẫu cho niềm tin của chúng ta hôm nay. 2. Người nghèo - Anawim – biểu tượng của lòng tin
Trong Kinh Thánh, thuật ngữ anawim, những người nghèo của Thiên Chúa, được sử dụng nhằm nhắc đến số sót trong dân Israel, những người trung thành với giao ước. Dân Chúa chọn đã phản bội với giao ước nhưng Thiên Chúa vẫn yêu thương trung thành với điều mà Ngài đã kí kết. Với số còn sót lại này Thiên Chúa tiếp tục chương trình cứu độ của Ngài. Họ đại diện cho lớp người đạo đức, những người Israel chân chính với niềm tin thuần khiết.
2.1. Niềm tin vào Giavê Thiên Chúa
Để chuẩn bị đại hội giới trẻ lần thứ XXIX tại Ba Lan, Đức giáo hoàng Phanxicô đã gởi đi thông điệp dành cho các bạn trẻ nhằm giúp họ nhận ra được ân sủng trên hành trình đức tin, được đặt nền tảng trên những mối phúc, nhất là mối phúc dành cho những người nghèo. Ngài nhấn mạnh rằng, phẩm từ nghèo (Πτωχοί (ptokos), trong tiếng Hy lạp) không chỉ mang nghĩa về sự thiếu thốn vật chất mà còn nhằm nói đến những con người. Từ này liên hệ tới từ anawim trong tiếng Do thái, được dịch là những người nghèo của Giavê.
Tiếng kêu than của các người nghèo khổ thấu đến tai Thiên Chúa (x. G 34,28) thường được trình bày cách khẩn thiết và vang dội nơi các thánh vịnh. Dĩ nhiên những con người được gọi “nghèo” đó không chỉ giới hạn nơi những người bần cùng, mà còn được nhắm đến những người sầu khổ, bị bách hại. Tất cả họ đều thuộc về gia đình các người nghèo. Có lúc họ mạnh mẽ bày tỏ khát vọng vào một ngày mai sẽ tươi sáng hơn, tuy nhiên họ vẫn mong chờ ơn cứu độ từ Giavê, Đấng mà họ đã gắn liền như ngôn sứ Giêrêmia đã nại đến Ngài để xin Ngài biện hộ (x Gr 20,12t). Như thế người nghèo trong thánh vịnh xuất hiện như người bạn và tôi tớ của Giavê (x Tv 86,1t), và nơi Ngài, họ nương ẩn với lòng tin tưởng, và là Đấng họ kính sợ và tìm kiếm (x Tv 34, 5-11).
Trước hết, họ là những người khiêm nhường, nhận thức được giới hạn bản thân và hiểu rõ hoàn cảnh sống nghèo của mình. Vì thế họ tin tưởng vào Thiên Chúa. Họ biết lệ thuộc vào Ngài. Điều này cũng đã được sách giáo lý Hội Thánh Công Giáo nhấn mạnh khi nói đến đời sống cầu nguyện trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Con người khẩn xin Chúa với thái độ khiêm nhường trong tư cách là những kẻ ăn xin.
Như vậy niềm tin vào Thiên Chúa của những anawim được thể hiện trong sự khiêm nhường. Trong lời rao giảng của các ngôn sứ thời cựu ước, những người nghèo của Thiên Chúa (x. Xp 2,3) là những người đang sống trong hoàn cảnh mong đợi, khao khát, hay nói mạnh hơn là đói khát sự công chính và khiêm hạ. Ngôn sứ Isaia đã dùng thuật ngữ anawim để chỉ những người đặt hết tâm trí mong đợi ơn Thiên Chúa giải cứu họ. Họ không có quyền lực, không kiêu căng, tự mãn, bạo lực, và chỉ mong ngóng Thiên Chúa đến mang ơn cứu độ, sống trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, trong hiền lành và khiêm hạ.
Đức giáo hoàng Benedicto XVI phác họa hình ảnh những anawim qua sự thinh lặng của họ trước trước Thiên Chúa. Họ không khoe khoang những công việc của mình trước Thiên Chúa. Họ đến với Thiên Chúa không như một đối tác ngang hàng trong quyền lợi, như người đòi hỏi phần thưởng xứng đáng cho các việc mình làm. Họ là những người cảm thấy nghèo hèn ngay tự nội tâm, là những người yêu mến tất cả những gì Thiên Chúa ban cho họ và nhờ đó họ sống hoàn toàn hòa hợp với bản chất và lời của Thiên Chúa. Trong một buổi tiếp kiến chung, vị giáo hoàng người Đức còn nói thêm về đặc tính của những anawim: «Theo tinh thần Thánh Kinh, từ ngữ anawim nói tới những tín hữu tự ý thức mình là nghèo, không những qua sự từ bỏ mọi ngẫu tượng về giàu có và quyền lực, mà còn ở tính khiêm nhường sâu xa của một tâm hồn biết trống rỗng trước cám dỗ của lòng kiêu ngạo, để mở lòng cho ân sủng cứu độ của Thiên Chúa tràn vào».
Niềm tin vào Thiên Chúa còn được biểu lộ qua sự phó thác vào Thiên Chúa. Theo nữ thần học gia Joan L. Roccasalvo, C.S.J, chữ anawim thường được dùng trong Cựu Ước để chỉ những người nghèo khổ, những người thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội, sống trong sự thiệt thòi, chịu mọi áp bức. Qua thời gian chữ anawim được dùng để nói về phong cách sống nghèo, hướng về tâm linh, của những người hoàn toàn chỉ biết trông cậy vào ơn Thiên Chúa. Bên cạnh những người nghèo của Thiên Chúa như cụ già Simeon, bà Anna, ông Giacaria, bà Elisabeth, những mục đồng Bêlem, hình ảnh mẫu mực của những anawim là Mẹ Maria và Thánh Giuse, những người luôn khiêm nhường và hoàn toàn tuân theo Thánh ý Thiên Chúa, dù không hiểu và không biết đường lối Thiên Chúa dành cho mình trong tương lai sẽ như thế nào!
Trong ngày truyền tin (x. Lc 1,26-38), khi nghe sứ thần Gabriel nói về việc mình sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, Mẹ Maria chỉ hỏi chuyện đó xảy ra thế nào. Một câu hỏi qua đó để biết rằng Mẹ tin rằng Thiên Chúa và chương trình của Ngài. Và với niềm tin tưởng đó, Mẹ sẵn sàng đáp lại: xin xảy đến với tôi như những lời sứ thần nói.
Thánh Giuse, dù Kinh Thánh không ghi lại một lời nào của ngài, nhưng với trình thuật về việc thiên thần báo mộng để đón Maria về chung sống bất chấp những dị nghị, cũng như lệnh truyền đem Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai-cập trong đêm, bất chấp những hiểm nguy, cho thấy được một tâm hồn phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa.
Và chính những bài học này, những người nghèo của Thiên Chúa trở nên những người thầy của chúng ta, như lời dạy của Đức giáo hoàng Lêô: «Người nghèo có thể là những người thầy thầm lặng cho chúng ta, giúp ta ý thức được sự kiêu ngạo của mình và gieo vào chúng ta một tinh thần khiêm nhường đúng đắn». 2.2. Thiên Chúa ban thưởng Nước Trời
Với mối phúc thứ nhất trong Tin mừng theo Thánh Luca, Chúa Giêsu chúc phúc cho những người nghèo (ptokos) và liền sau đó là lời hứa Nước Trời. Người Do Thái coi Trời là nơi Thiên Chúa ngự trị (x. Tv 102,20 ; Is 63,15) và chính Chúa Giêsu cũng xác định điều này khi nói về Chúa Cha : “Cha anh em, Đấng ngự trên trời” hoặc “Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16; 6,9; 12,50 ; 18,19).
Trong điển ngữ thần học Thánh Kinh, có giải thích rằng: cụm từ chốn cư ngụ trên trời của Thiên Chúa, một mặt gợi lên tính chất siêu việt bất khả xâm phạm của Ngài, mặt khác còn cho thấy sự hiện diện rất gần của Ngài. Vì vậy Trời không chỉ là nơi Thiên Chúa ngự trị, mà còn là chính Thiên Chúa, như ông Giuđa Macabê trong cuộc chiến chống quân Hy Lạp, đã kêu gọi dân chúng rằng: “Chúng ta hãy kêu lên Trời, xin Người thương đến chúng ta, và ông tin tưởng rằng Trời sẽ ban sức mạnh để chiến thắng địch thù (x. 1Mcb 3,18-19 ; 2Mcb 9,20).
Vì thế niềm hy vọng vào Nước Trời gắn liền với niềm tin vào chính Thiên Chúa, một Thiên Chúa ngự trị và cai quản vũ trụ này chứ không phải con người. Ngài đặt ngai tòa trên trời, và hội họp triều thần của Ngài, “đạo binh thiên quốc”, để loan truyền và chu toàn mệnh lệnh của Ngài tới tận cùng thế giới (1V 22, 19; x. Is 6, 1t.8). Vũ trụ này hoàn toàn tùng phục vương quyền của Thiên Chúa và được mắt Ngài thấu suốt, chăm nom. Chúa ngự trên trời để xét xử công bình với hết mọi người, để nâng kẻ hèn mọn khỏi chốn bụi tro (x. Tv 113, 4tt), để lời khẩn thiết của mọi người và toàn thể dân Ngài có thể thấu đến tai Ngài (1V 8,30).
Như vậy, Trời hay Nước Trời nói đến sự hiện diện của Chúa Cha, là Đấng thông biết, một sự hiện diện vô hình nhưng ân cần, sự hiện diện ôm ấp cả thế gian và chim trời (x. Mt 6,26), bao phủ cả người công chính lẫn tội nhân (x. Mt 5,45) bằng lòng nhân lành vô bờ của Ngài (x. Mt 7,11). Thiên Chúa ngự trên trời nên Ngài ngự ở đó cùng với chân lý (x. Tv 119,89t), với ân sủng và lòng trung thành của Ngài (Tv 89,3).
Để sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên một thực tại sống động và vinh thắng, và để Nước Trời ngự đến, Chúa Giêsu đã đến giảng dạy những điều Người biết và minh chứng điều Người đã thấy (x. Ga 3,11). Vì thế Thiên Chúa ngự trên trời là một vị Thiên Chúa cứu thế và Ngài cai trị theo cách rất đặc biệt của Ngài, bằng tình yêu và bằng sự phục vụ qua chính Con Một của Ngài. Vì thế từ niềm tin vào Nước Trời, dẫn đến niềm tin vào một Thiên Chúa công bình trong Cựu Ước, và từ đó chuyển sang niềm tin vào Chúa Giêsu. Qua sự hiện diện của Chúa Giêsu, Nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa con người (x. Lc 17, 19-21). Đức giáo hoàng Benedicto XVI viết rõ ràng hơn: Chúng ta thấy Đức Giêsu là thấy chính nước Thiên Chúa ngay trong bản thân Người; nơi nào Người hiện diện, nơi đó có Nước Trời. Đức Benedicto XVI lấy lại lời của Origenès để xác quyết Nước Trời đang hiện diện nơi Chúa Giêsu, Đấng được gọi là autobasileia, có nghĩa là vương quốc trong con người Đức Giêsu. Đức Giêsu chính là “vương quốc”. Đó không phải là một đối tượng hay một không gian quyền lực như các vương quốc trần gian: đó là một con người. Với lời dạy về “Nước Thiên Chúa”, Chúa Giêsu hướng dẫn con người đón nhận sự kiện vĩ đại: Thiên Chúa hiện diện trong Người giữa nhân loại, Người là sự hiện diện của Thiên Chúa.
Như vậy, Nước Trời mà Chúa Giêsu hứa ban cho những người nghèo, đang sống trong hoàn cảnh nghèo và có tình thần của những anawim dẫn đến niềm tin vào một Thiên Chúa quyền năng công bình và đang ở giữa chúng ta. II. NGƯỜI NGHÈO, CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN ĐỨC TIN
Trong tông huấn Dilexi Te, Đức giáo hoàng Lêô đề cập đến khía cạnh “chủ thể” của những người nghèo, một chủ thể không chỉ để đòi hỏi một sự tôn trọng, mà là chủ thể để thấy vai trò của họ trong tương quan với người khác.
Trước hết, những người sống trong hoàn cảnh nghèo, họ đặt niềm tin vào Thiên Chúa và qua đó trở nên mẫu gương cho hành trình đức tin của những Kitô hữu, của những môn đệ Chúa Kitô. Trong bối cảnh khó khăn, trong hoàn cảnh bị bỏ rơi, qua thái độ sống cũng như cách ứng xử trong tương quan với Thiên Chúa, người nghèo có một vai trò, vị trí rất quan trọng với người khác. Điều này được nhấn mạnh trong văn kiện của hội nghị các giám mục châu Mỹ Latinh tại Aparecida, Brazil: Những người dù bị gạt ra bên lề xã hội, họ vẫn là những chủ thể có khả năng kiến tạo nền văn hóa riêng của mình, chứ không phải như những đối tượng của việc bác ái mà người khác làm. Dù sống trong thế giới có sự phân biệt giàu nghèo rất lớn, người nghèo của Chúa vẫn được nhìn nhận rằng: «Kinh nghiệm về nghèo đói giúp họ có khả năng nhận ra những khía cạnh của thực tại mà người khác không thể thấy; vì lý do này, xã hội cần lắng nghe họ. Điều tương tự cũng đúng với Giáo hội, bởi Giáo hội cũng nên nhìn nhận một cách tích cực việc thực hành đức tin “bình dân” của họ».
Trong hoàn cảnh rất đặc biệt của mình, người nghèo cũng là những tác nhân loan báo Tin mừng và mang lại cho nhiều người khác, có thể là những người có điều kiện sống tốt hơn họ, những cách thế để làm chứng cho đức tin, cho Tin mừng. Đức giáo hoàng Lêô XIV đã nhận ra nơi người nghèo những giá trị của những môn đệ được Chúa Giêsu sai đi: «Ngày này qua ngày khác, người nghèo trở thành tác nhân của việc loan báo Tin Mừng và việc thăng tiến con người toàn diện: họ giáo dục đức tin cho con cái, tham gia vào mối liên đới thường xuyên giữa người thân và hàng xóm, không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa, và làm sống động cuộc hành hương của Giáo hội».
Liên quan đến những bài học đức tin mà người nghèo mang lại cho chúng ta, những môn đệ của Chúa, Đức giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh:
Họ có nhiều điều để dạy chúng ta. Không những họ tham dự vào cảm thức đức tin (sensus fidei), nhưng giữa những khó khăn của mình, họ nhận biết Đức Kitô chịu đau khổ. Chúng ta cần phải để mình được Phúc-Âm-hoá bởi họ. Tân Phúc-Âm-hoá là một lời mời gọi nhìn nhận quyền năng cứu độ đang hoạt động trong đời sống của họ và đặt nó vào tâm điểm cuộc lữ hành của Hội Thánh. Chúng ta được kêu gọi tìm thấy Đức Kitô nơi họ, lên tiếng bênh vực mục đích của họ, nhưng đồng thời cũng là bạn của họ, nghe họ, nói với họ và ôm ấp sự khôn ngoan mầu nhiệm mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với chúng ta thông qua họ.
Mặt khác người nghèo xét như một chủ thể trong tương quan, họ trở nên phương thế, tiêu chuẩn, thước đo để đánh giá mức độ trưởng thành trong đời sống đức tin của người thời đại. Cách mà con người đối xử tha nhân, với những người bé mọn cũng đồng nghĩa với cách đối xử với Thiên Chúa (x. Mt 25, 31-46). Người nghèo khi đó trở nên quà tặng mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại và quà tặng tuyệt vời là chính Chúa Giêsu Kitô. 1. Lối nẻo đức tin qua Đấng Messia nghèo hiện diện nơi con người
Dân Israel mong đợi đấng cứu thế, đấng sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của kẻ thù. Thế nhưng Người đã đến nhà mình và người nhà chẳng chịu đón nhận (x. Ga 1,11) bởi lẽ trong mắt họ, không thể có Đấng Messia lại hiện diện một cách tầm thường như vậy.
1.1. Một Thiên Chúa làm người
Niềm tin vào Đấng Messia bị thử thách rất lớn bởi thân phận nghèo của Ngài. Tuy nhiên đó là chương trình kì diệu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (x. Ga 3,16). Con Thiên Chúa đã đến trong thân phận người phàm theo một cách thế cùng cực nhất. Ngài được cưu mang bởi một thiếu nữ nhà quê, ở một làng quê xa xôi hẻo lánh (x. Lc 1,27). Và ngay từ giây phút chào đời, Người đã nếm trải kinh nghiệm cay đắng của việc bị khước từ. Thánh sử Luca kể lại việc Thánh Giuse và Đức Maria, sắp sinh con, đã đến Bêlem, và nói thêm một cách chua xót rằng “không có chỗ cho họ trong quán trọ” (Lc 2,7).
Đó là hoàn cảnh sống nói lên sự tự hủy của Con Một Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô, vốn là đấng giàu có, đã trở nên nghèo để làm cho thế gian giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài. Vì khi sống giữa chúng ta Ngài đã không dùng những đặc quyền vốn thuộc về mình; Ngài đã không xuất hiện như “Chúa”, mà như “người tôi tớ”, như kẻ nô lệ. Ngài đã không biểu lộ những đặc quyền vốn thuộc Thiên tính của Ngài, trái lại mặc lấy “thân xác tội lỗi” như thân xác của chúng ta (x. Rm 8,3tt).
Tuy nhiên sự nhập thể của Chúa Giêsu, sự tự hạ của Ngài mang lại ơn cứu độ cho những ai tin vào Ngài. Đức giáo hoàng Lêô khẳng định: «Nơi cuộc nhập thể, Chúa Giêsu “đã hoàn toàn trút bỏ chính mình, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân” (Pl 2,7), và trong hình dạng đó, Người đã mang ơn cứu độ đến cho chúng ta». Với những kẻ nghèo của Thiên Chúa, những người đang khao khát chương trình của Thiên Chúa được thực hiện, những người luôn tin tưởng vào sự quan phòng và tình yêu của Ngài, mầu nhiệm nhập thể là giây phút của lòng hân hoan. Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm (x. Lc 2,14). Đó chính là niềm tin mang lại ân sủng như cách Đức giáo hoàng Lêô đã diễn tả:
Sự nghèo khó của Người là một sự nghèo khó triệt để, bắt nguồn từ sứ mạng mặc khải trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta (x. Ga 1,18; 1Ga 4,9). Như thánh Phaolô diễn tả theo cách ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa: “Anh em biết rõ ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để nhờ sự nghèo khó của Người, anh em trở nên giàu có” (2Cr 8,9).
Rõ ràng niềm tin vào Đấng Messia nhập thể làm người đã mở ra cho nhân loại một chân trời mới, với những thứ ánh sáng chiếu soi chỉ dẫn con người những hướng đi hầu đạt tới hạnh phúc đời đời mà các ngôn sứ đã loan báo: «Dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi» (Is 9,1).
Tuy nhiên, cũng như sự nhập thể của Ngôi Lời trong xác phàm, lịch sử dân Chúa và lịch sử ơn cứu độ cũng phải đi trong lịch sử nhân loại với những cản trở bởi sự cứng lòng tin của con người. Tư tưởng của Chúa khác với tư tưởng của con người và chương trình thực hiện của Ngài, loài người không sao hiểu thấu như lời tuyên sấm của ngôn sứ Isaia: «Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy» (Is 55,9). Niềm tin vào Đấng Messia nghèo được tôi luyện và được hướng dẫn qua đời sống nghèo của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu được mời gọi tiếp tục đọc lại hành trình của Đấng Messia nghèo để càng củng cố niềm tin của mình hơn. 1.2. Một Thiên Chúa tự hủy trong đời sống nghèo
Những quan điểm khác nhau, những tranh luận về ông Giêsu, theo kiểu: “Ngài có phải là Đấng Messia không?”: (Ga 4,29; 7,40) hay tương tự như thế: “Ngài có phải là con vua Đavid không?” (Mt 12,23) thật sự đã khơi mào từ chính cuộc sống ẩn dật của Ngài. Một sự tầm thường quá mức đến nỗi người thời đại nghi ngờ cách tất yếu, dẫu cho Ngài rao giảng như một người có uy quyền và Ngài làm những điều mà người đương thời chưa thấy trước đó (x. Lc 4,31-37).
“Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giô-xếp, Simon và Giuđa sao? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế? Và họ vấp ngã vì Người” (Mt 13, 55-57). Với người Do Thái, làm sao họ đủ cơ sở để tin vào Đấng Messia với một vị thế tầm thường trong xã hội: mưu sinh bằng nghề thủ công hay thợ mộc, téktōn (x. Mc 6,3), một nghề lao động chân tay, và còn bị đánh giá thấp hơn cả nghề nông; khi được cha mẹ dâng vào đền thờ theo quy định của sách Lêvi (x. 12,8), Ngài được chuộc lại bằng một cặp chim gáy hoặc bồ câu (x. Lc 2,22-24), lễ vật của những người nghèo. Người Do Thái đâu đủ kiên nhẫn để bám víu và phó thác cuộc đời mình cho người đã nhặt bông lúa cùng với nhóm môn đệ để ăn khi đi qua cánh đồng (x. Mc 2,23-28). Đó là hành vi chỉ dành cho những người nghèo: mót lúa trên đồng. Họ đâu ngây thơ đến nỗi tin theo người người đã thú nhận về thân phận bấp bênh của chính mình: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20; Lc 9,58). Ngay cả loài vật, như những con cáo hay những con chim khi di chuyển từ nơi này đến nơi nọ, ít ra chúng cũng có một cái hang ở dưới đất hay cái tổ trên cây; ấy vậy mà Đức Giêsu chẳng có lấy một chỗ nương thân.
Thế nhưng đó lại là một đòi hỏi, một điều kiện cơ bản cho những ai dám bước theo Ngài, tin vào Ngài, bởi lẽ «việc từ bỏ của cải, tiền bạc và sự an toàn trần tục trở thành dấu chỉ hữu hình của việc phó thác chính mình cho Thiên Chúa và cho sự quan phòng của Ngài», Đấng là hiện thân của người nghèo, độc thân, không gia đình, không nơi ở nhất định, không có vẻ gì là công dân. Hình ảnh những cánh chim trên bầu trời và những con cáo chui rúc trong hang làm tăng mức độ bấp bênh, vất vả nơi hoàn cảnh Đức Giêsu đang sống nhưng không làm giảm mức độ đòi hỏi của lối sống mà Ngài mời gọi những ai muốn theo Ngài phải dấn bước.
Để có được niềm tin vào ông Giêsu Nazareth tầm thường, nghèo khó, thính giả trải qua một cuộc chiến thật sự, không chỉ với chính mình, với lương tâm, với lòng khao khát bấy lâu nay mà còn phải đối diện trước những sự dữ khách quan bên ngoài. Quả thật rất nhiều lần Chúa Giêsu bị chối từ, bị sỉ nhục trong đời sống công khai rao giảng Tin mừng của mình, bởi những lời nói bị xem là chói tai (x. Ga 6,60), bởi những việc làm được coi là vi phạm lề luật, bởi những lời dạy bị coi là lừa dối dân chúng, là phạm thượng…Trong một bài viết của mình, linh mục Enrico Cattaneo, Sj đã giúp hiểu rõ sự “phạm thượng” của Chúa Giêsu và kết cục dành cho Ngài. “Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (Mc 2,7; Mt 9,3). Theo luật Do Thái, tội phạm thượng là một tội rất nghiêm trọng và đáng bị tử hình. Mặc dù hình phạt này ngay lúc đó chưa được áp dụng ngay tức thì, nhưng trên thực tế, lời buộc tội này cộng với những lời buộc tội rằng Ngài ngồi ăn với người tội lỗi (Mc 2,15-17), không thực hành việc ăn chay (Mc 2,18-22), không giữ luật ngày Sabát (Mc 2,23-28), và cuối cùng là việc chữa lành vào ngày Sabát (Mc 3,1-5), đã dẫn đến một bản án tử hình ngấm ngầm, hệ quả cho những gì xảy ra sau đó: “Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Đức Giêsu” (Mc 3,6). Và họ cũng tìm cách ngăn cản những ai muốn tin vào Ngài khi sẵn sàng trục xuất ra khỏi hội đường những ai công nhận Ngài là Đấng Messia (x. Ga 9,22)
Dù vậy, vẫn có đó những người nghèo, những tâm hồn khao khát sự chữa lành, khao khát sự ông chính, đã theo Chúa Giêsu. Vẫn có đó những người chạy đến cậy nhờ quyền năng lạ lùng của Ngài và công khai cầu khẩn Ngài, trong tư cách là con vua Đavid (x. Mt 9,27; 15,22; 20,30t); những người đã vượt qua mọi rào cản, định kiến để công khai tuyên xưng đức tin vào Đấng Messia Giêsu.
Rõ ràng giữa những tranh luận, giữa những bách hại, Thiên Chúa thể hiện quyền năng của Ngài và ban ơn cho những ai tin vào Ngài, nhất là những người đã cảm nhận sự gần gũi, sự cảm thông và tình yêu bao la của Thiên Chúa qua chính Chúa Giêsu, Đấng là một với Chúa Cha, Đấng «cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính» (Mt 5,45), Đấng sẽ lau khô những giọt nước mắt của những người đã đau khổ quá nhiều bởi những thành kiến, bởi những bất công trong xã hội, nhất là những người nghèo, người bệnh tật, người bị gạt ra bên lề xã hội.
Hành trình đức tin vào Chúa Giêsu nghèo của những người nghèo cũng là con đường của mỗi người Kitô hữu hôm nay, những người đang sống trong thời đại phát triển, đang phải chiến đấu trước những thế lực, những sự dữ, những cám dỗ trong cuộc sống hàng ngày. Đó là một đức tin có việc làm, một đức tin được xây dựng trên nền đá vững chắc là chính Chúa Kitô. «Đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn gần gũi với người nghèo và những người bị ruồng bỏ, là nền tảng cho mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành viên bị lãng quên nhất trong xã hội». Điều này chỉ có thể thực hiện với sức mạnh thần linh, với bảo chứng rõ ràng qua giao ước mới trong máu của Chúa Kitô, sự tự hủy đến tận cùng để kéo mọi người đến với Ngài. 1.3. Tự hủy đến tận cùng cuộc sống
Đỉnh cao của sự tự hạ là Chúa Giêsu đã trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa: như một người tôi tớ Ngài đã vâng lời cho đến chết, thậm chí là cái chết xấu xa và ô nhục trên thập giá (x. Pl 2, 5-11). Đức giáo hoàng Lêô đã nhấn mạnh đến chiều kích tự hạ này của Chúa Giêsu để Ngài trở nên một người nghèo giữa muôn người nghèo:
Người đã chết như một kẻ bị ruồng bỏ, bị dẫn ra khỏi Giêrusalem để chịu đóng đinh (x. Mc 15,22). Quả thật, đó là cách diễn tả rõ nhất về sự nghèo khó của Chúa Giêsu: Người đã kinh nghiệm cùng một thân phận bị loại trừ mà người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ phải chịu. Chúa Giêsu là một biểu lộ của privilegium pauperum (sự ưu tiên người nghèo). Người tự giới thiệu mình với thế giới không chỉ như một Đấng Messia nghèo khó, mà còn là Đấng Messia của người nghèo và cho người nghèo.
Vì sự vâng phục Chúa Cha và vì tình yêu đối với nhân loại đang bị giày vò bởi tội lỗi, bởi sự chết, Ngài chấp nhận con đường thập giá, chấp nhận cái chết nghèo hèn nhất để hoàn tất mầu nhiệm vượt qua, mầu nhiệm sinh ơn cứu độ, mang lại niềm tin cho các Kitô hữu, dù cho thập giá được coi là sự điên rồ đối với dân ngoại, và là điều ô nhục đối với người Do Thái. Nhưng với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (x.1Cr 1, 23-24). Mầu nhiệm vượt qua trở nên sức mạnh của niềm tin vì theo như thánh Phaolô: «Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng» (1Cr 15, 14).
Quả thật khi hoàn tất mầu nhiệm vượt qua, khởi đi từ sự tự hủy đến cùng tận, Chúa Giêsu đã được tôn vinh. Và nói như thần học gia người Tây Ban Nha José Cristo Rey García Paredes, Ngài đã nhận được quyền năng hầu phân phát sự giàu có nơi thiên tính của Ngài. Xem ra hình ảnh Đức Kitô đã tỏ lộ cho thánh Phaolô lề luật mang tính cứu độ, theo đó Ngài từ bỏ quyền lợi của mình để làm cho những người khác được giàu thêm… Sự giàu có đích thật là tình yêu được biểu lộ bằng quà tặng của bản thân; khi bước theo Đức Giêsu… lòng yêu thương được giải thoát khỏi của cải và những quyền lực xấu xa của thế gian, đồng thời tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ lo cho ta mọi nhu cầu theo mức độ lượng vinh quang dồi dào của Ngài.
Đó chính là hành trình mà Chúa Giêsu của người nghèo đã dẫn đưa và ban ơn cho tất cả các Kitô hữu. Và đó chính là niềm hy vọng cho những môn đệ của Chúa Kitô, trong đó có những kẻ bất toàn, tội lỗi và nghèo khó như chúng ta. Dầu phải đối diện với những thập giá, những đau khổ, bởi đêm tối của đức tin, bởi những khủng hoảng về sự hiện hữu, về ơn gọi, người môn đệ của Chúa vẫn mạnh mẽ tiến bước trong niềm tin. Đằng sau của sự nghèo khó nơi Chúa Giêsu là sự giàu có vô cùng, đằng sau thập giá là vinh quang phục sinh, đằng sau sự sống này là sự sống vĩnh cửu theo như cách giải thích của vị tông đồ dân ngoại, người đã làm nổi bật nét tương phản giữa sự nghèo khó của Đức Giêsu lịch sử với sự giàu có mà Ngài đã ban chính mình cho chúng ta, sự giàu có ấy tạo cho chúng ta quyền thừa kế. Vì chúng ta, xét như phàm nhân, là những kẻ hoàn toàn nghèo nàn, đã bị tước hết quyền sở hữu mọi thứ, không có tương lai. Vì thế Ngài nói: «anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có» (2Cr 8,9).
Sự giàu có mà Chúa Giêsu-nghèo-khó ban cho chúng ta còn được thực hiện qua những cách thế phong phú hơn, qua những con người mà chính Chúa Giêsu đã đồng hóa với họ: «Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy» (Mt 25, 40). 2. Người nghèo, phương thế dẫn đến đức tin
Trong cuộc sống, nhiều người nghèo hay nhiều hoàn cảnh nghèo thường là nạn nhân của sự dữ, của lòng tham và sự ích kỷ chứ không phải xuất phát từ tội lỗi của bản thân người đó như quan niệm của người Do Thái. Sự cùng cực của họ là lý do để được Thiên Chúa yêu mến. Sống tương quan với họ là thước đo để đánh giá tương quan với Thiên Chúa. Con đường đến với Thiên Chúa chính là con đường ngang qua tha nhân, nhất là qua những con người nghèo khổ. Nói cách khác, sự hiện diện của họ và hoàn cảnh sống của họ là phương thế để dẫn chúng ta đến với niềm tin vào Thiên Chúa. Đó không phải là đức tin được đánh dấu qua bí tích Rửa Tội, được lưu lại trong sổ sách với tư cách là thành viên của Hội Thánh; cũng không phải là những thực hành qua các bí tích, nơi các cử hành phụng vụ mà là một hành trình không chỉ của bản thân mà xét trong suốt chiều dài lịch sử dân Chúa và của Hội thánh hôm nay.
Chọn lựa phục vụ người nghèo là sứ điệp rất mạnh mà Giáo hội và các Đức giáo hoàng muốn gởi đến cho mỗi Kitô hữu trong thời đại hôm nay. Đức giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến một sự lựa chọn làm nên căn tính của Giáo Hội chứ không phải là một việc làm bác ái, một sự chọn lựa dựa trên phạm trù chủ yếu thần học hơn là một phạm trù xã hội học, chính trị hay triết học. Chúa Giêsu dạy: «Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo» (Lc 9, 23). Xét trong tương quan với người nghèo, ta cũng có thể nói: Ai muốn theo Chúa Giêsu, một Chúa Giêsu Nghèo, phải chọn lựa phục vụ người nghèo. Nếu không có sự lựa chọn ưu tiên vì người nghèo, việc rao giảng Tin Mừng, điều làm nên căn tính của Hội Thánh, tự nó là hình thức cơ bản của đức ái, sẽ có nguy cơ bị ngộ nhận hay bị nhấn chìm bởi đại dương những lời nói hằng ngày nuốt chửng chúng ta trong xã hội truyền thông hôm nay.
Còn với Đức giáo hoàng Lêô, ngài nhấn mạnh đến “sự ưu tiên” chọn lựa người nghèo. Dĩ nhiên “sự ưu tiên” này phải được hiểu trong sự dung hòa và đúng đắn trong bối cảnh cũng như ý hướng mà Đức giáo hoàng đương nhiệm muốn gởi đến mọi thành phần dân Chúa trong cuộc sống hôm nay. «“Sự ưu tiên” này không bao giờ ám chỉ sự loại trừ hay kỳ thị đối với các nhóm khác, điều không thể xảy ra đối với Thiên Chúa. Sự ưu tiên ấy nhằm nhấn mạnh hành động của Thiên Chúa, được thúc đẩy bởi lòng trắc ẩn đối với tình trạng nghèo nàn và yếu đuối của toàn thể nhân loại. Muốn khai mở một vương quốc của công lý, huynh đệ và liên đới, Thiên Chúa dành một chỗ đặc biệt trong trái tim Ngài cho những kẻ bị kỳ thị và áp bức, và Ngài yêu cầu chúng ta, Giáo hội của Ngài, đưa ra một lựa chọn dứt khoát và triệt để ủng hộ những người yếu đuối nhất».
Vì thế nếu Giáo hội muốn trở thành Giáo hội của Chúa Kitô, phải là một Giáo hội của các Mối Phúc, một Giáo hội dành chỗ cho những người bé mọn và nên nghèo với người nghèo, trở thành một nơi mà người nghèo có chỗ ưu tiên (x. Gc 2,2-4). 2.1. Người nghèo: một sự nhắc nhở Thiên Chúa trong thời đại hôm nay
Giữa một thời đại mà đời sống tự nhiên của con người bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hưởng thụ; đời sống đức tin bị lung lay bởi chủ nghĩa tương đối, con người có nguy cơ đối diện với những khủng hoảng, những nghịch lý khó giải thích được. Càng chạy theo lối sống hưởng thụ, càng tìm cách thỏa mãn những nhu cầu về vật chất, danh vọng, con người không bao giờ cảm thấy hạnh phúc, trái lại vẫn ra sức tìm kiếm trong khắc khoải. Con người càng ra sức tìm tự do, ra sức tìm kiếm sự giải thoát khỏi những ràng buộc, quy định của lương tâm, của luật tự nhiên, của các hướng dẫn tôn giáo, con người càng cảm thấy mất tự do, bất an và bất hạnh. Với lý trí và lối suy tư hiện sinh, con người không thể giải thích được những nghịch lý mà họ đang đối diện, nhưng xét trên bình diên siêu nhiên, lời lý giải bắt nguồn từ việc con người chưa tìm thấy cùng đích đúng đắn của đời sống Kitô hữu.
Trong đời sống hôm nay, có thể các Kitô hữu không còn quá thiếu thốn đến nỗi sống trong hoàn cảnh cùng cực, cơ bần. Nhưng nếu sống trong sung túc về vật chất, con người có nguy cơ rơi vào sư thiếu thốn về mặt thiêng liêng. Đức giáo hoàng Lêô cảnh báo: «Rất thường, sự sung túc của mình có thể làm ta mù quáng trước nhu cầu của người khác, và thậm chí khiến chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc và sự viên mãn của ta chỉ phụ thuộc vào chính mình mà thôi, tách biệt hẳn khỏi người khác». Chúa Giêsu đòi hỏi những kẻ theo Ngài có thái độ từ bỏ đối với của cải trần gian (dầu họ có hay không có) với mục đích đạt được tâm tình và sự ao ước lãnh nhận của cải đích thực (x. Mt 6,24.33; 13,22). Con người được mời gọi sử dụng của cải trần gian một cách thích hợp và coi đó như là phương thế để đạt được Nước Trời, để gần với Thiên Chúa hơn chứ không phải là cứu cánh, vì tất cả sẽ qua đi (x. 1Cr 7,31). Những người nghèo giúp phác họa cách đầy đủ diện mạo của những thế hệ kế thừa, của dõng dõi của những anawim, với mục đích để họ luôn ý thức về cảnh lầm than cá nhân của họ nơi bình diện tôn giáo và về nhu cầu cần sự trợ giúp nơi Thiên Chúa.
Như vậy qua người nghèo hay hoàn cảnh nghèo, con người nhận ra ý nghĩa của sự thanh thoát trong việc sử dụng của cải, nhận ra sự chóng qua và bấp bênh của vật chất ở đời này. Họ học cách để trở nên giống các trẻ nhỏ và như trẻ nhỏ hầu họ hưởng được Vương Quốc Thiên Chúa (x. Lc 18, 15tt; Mt 19,13-24).
Tin mừng nhấn mạnh đến khía cạnh thiêng liêng của sự nghèo khó, nhưng không vì thế mà giản lược hoặc làm lu mờ giá trị tôn giáo của sự nghèo khổ thật sự, trong mức độ nó là dấu chỉ và phương tiện đạt đến sự từ bỏ nội tâm. Sự nghèo khó này cũng hàm chứa những giá trị tích cực nếu khởi hứng từ lòng tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa, từ niềm ao ước theo Chúa Giêsu, từ tâm hồn quảng đại với anh em. Nó giúp cho con người tự do hơn để tiếp tục đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, hiến mình hoàn toàn vào việc phục vụ Vương Quốc Thiên Chúa.
Từ lời nhắc nhở của Thiên Chúa qua hình ảnh những con người nghèo, các Kitô hữu sống hành trình đức tin của mình cách trưởng thành hơn trong mọi cảnh huống của cuộc sống, từ đó họ bước theo Chúa Kitô cách mạnh mẽ hơn và trung thành hơn. 2.2. Sống đức tin qua việc phục vụ người nghèo
Trước hết phải xác định rõ, những người nghèo trong hoàn cảnh của họ là cơ hội của chúng ta. Họ là những chủ thể với một ví trí không thể thay thế trong chương trình của Chúa, chứ không phải là những đối tượng để người khác khinh rẻ, lạm dụng. Khi được yêu, người nghèo “được quí chuộng như một giá trị lớn”, và đây chính là điều làm cho chọn lựa đích thực vì người nghèo khác với mọi ý thức hệ khác, khác với mọi cố gắng bóc lột người nghèo vì lợi ích cá nhân hay chính trị. Khi tiếp xúc và đón nhận những anh chị em nghèo với tư cách là những chủ thể, chính chúng ta được phúc âm hóa, như Đức giáo hoàng Phanxicô đã huấn dụ:
Chúng ta cần phải để mình được Phúc-Âm-hoá bởi họ. Tân Phúc-Âm-hoá là một lời mời gọi nhìn nhận quyền năng cứu độ đang hoạt động trong đời sống của họ và đặt nó vào tâm điểm cuộc lữ hành của Hội thánh. Chúng ta được kêu gọi tìm thấy Đức Kitô nơi họ, lên tiếng bênh vực mục đích của họ, nhưng đồng thời cũng là bạn của họ, nghe họ, nói với họ và ôm ấp sự khôn ngoan mầu nhiệm mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với chúng ta thông qua họ.
Đó là một sự lựa chọn dẫn đến việc gặp gỡ chính Thiên Chúa, được biến đổi trong niềm tin, để nhờ đó các môn đệ của Chúa cũng được đón nhận lời chúc Nước Trời.
2.2.1. Lựa chọn phục vụ người nghèo: tìm thấy và tin theo Chúa Giêsu.
Việc lựa chọn phục vụ người nghèo hay ưu tiên cho người nghèo không chỉ giới hạn trong tương quan giữa người với người, hoặc đơn thuần được hiểu như hành vi bác ái trong muôn vàn hoạt động xã hội nhằm để giúp những người đang cần đến những nhu cầu vật chất hoặc tinh thần, trái lại đó là hoạt động qua đó con người cảm nghiệm được chiều kích tâm linh trong tương quan với Thiên Chúa.
2.2.1.1. Phục vụ người nghèo: Gặp gỡ Chúa Kitô.
Một Chúa Giêsu nghèo, Đấng Messia nghèo là điểm đến trong hành trình đức tin của mỗi Kitô hữu. Đức tin của người Kitô hữu không hệ tại ở những tín điều khô cứng hay những nghi thức phụng vụ vô hồn mà chính là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, như Đức giáo hoàng Phanxicô đã viết: «Đức tin được sinh ra từ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, Đấng kêu gọi chúng ta và mặc khải cho chúng ta tình yêu của Người, một tình yêu đi trước chúng ta, để chúng ta có thể nương tựa vào đó mà tìm thấy sự bảo đảm và xây dựng cuộc đời mình». Cũng với ý tưởng như vậy, vị Giáo hoàng tiền nhiệm của Đức Phanxicô, Đức Lêô dạy: «Là Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý tưởng cao siêu, nhưng là do gặp gỡ một biến cố, một con người, cuộc gặp gỡ ấy mang lại cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi dứt khoát».
Một ơn gọi dù đáng quý, một hoàn cảnh sống dù tốt đều trở nên vô nghĩa nếu đích điểm cuối cùng của đời người không đạt được: gặp gỡ Chúa Kitô. Trái lại, dù sống trong đau khổ, dù phải đánh đổi những thứ quý giá nhất mà được gặp Chúa, con người vẫn sẵn lòng. Hình ảnh ông Giakêu tìm cách gặp Chúa Giêsu cho bằng được, hoặc lời hứa chia phân nửa tài sản cho người nghèo; sẵn sàng đền gấp bốn những gì ông chiếm đoạt cho người khác (x. Lc 19, 1-10) cho ta thấy được niềm vui của người được gặp Chúa, được đón tiếp Chúa. Vì thế nếu người tín hữu sống phục vụ người nghèo hoặc trở nên nghèo mà được gặp Chúa cũng là ân huệ lớn lao trong cuộc đời họ.
Người nghèo chính là phương thế rõ ràng và cụ thể nhất để qua đó, con người được gặp Chúa. Dựa trên văn kiện của hội nghị các Đức giám mục tại Puebla, triết gia và cũng là thần học gia người Peru, Gutiérrez đã viết: «Ý nghĩa sâu xa nhất cho việc dấn thân vì người nghèo là cuộc gặp gỡ với chính Đức Kitô. Âm vang từ một đoạn Tin Mừng Matthêu về ngày chung thẩm, Hội nghị Puebla mời gọi chúng ta nhận ra trên khuôn mặt của những người nghèo “những nét đau khổ trên khuôn mặt của Chúa Kitô đang chất vấn và van xin chúng ta”».
Gặp gỡ người nghèo thật sự đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu, mở ra cho Giáo hội và cho mỗi Kitô hữu cách thế để thấu hiểu, cảm thông và yêu mến, đặt nền tảng trên một niềm tin vững mạnh vào Chúa Giêsu nghèo, đang hiện diện qua những con người nghèo khó, khổ đau, bất hạnh.
2.2.1.2. Phục vụ người nghèo: tin và yêu mến Chúa
«Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,40). Đoạn tin mừng về ngày phán xét theo thánh Matthêu (x. Mt 25, 31-46) được coi như nền tảng cốt lõi của Kinh Thánh để Giáo hội khẳng định rằng sứ mạng lựa chọn phục vụ người nghèo thuộc trong căn tính của mình, là trung tâm trong đời sống của Giáo hội, bởi lẽ lòng tin của chúng ta vào Chúa Kitô là nền tảng cho mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành viên bị lãng quên nhất trong xã hội.
«Ngay từ những thế kỷ đầu, các Giáo phụ đã nhận ra nơi người nghèo một con đường ưu tiên để đến với Thiên Chúa, một con đường đặc biệt để gặp gỡ Ngài. Lòng bác ái đối với những người túng thiếu không chỉ được xem là một nhân đức luân lý, mà còn là một diễn tả cụ thể của đức tin vào Ngôi Lời nhập thể». Vì thế quyết tâm lựa chọn người nghèo được hàm chứa trong niềm tin Kitô giáo, niềm tin vào một Thiên Chúa đã trở nên nghèo vì chúng ta, hầu làm cho chúng ta giàu sang bởi cái nghèo của Người (x. 2Cr 8,9). Đó là sự dấn thân bắt nguồn từ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng là Thiên Chúa đã trở nên người phàm.
Từ nay phục vụ người nghèo là biểu hiện tấm lòng của chúng ta yêu mến Chúa Giêsu: vì khi giúp đỡ họ, chúng ta giúp đỡ chính Chúa, trong lúc chờ đợi Ngài trở lại trong vinh quang. Tình yêu dành cho người nghèo và tình yêu dành cho Chúa Kitô chỉ là một cho những ai tin vào Đấng đã và đang hiện diện nơi những con người bé nhỏ trước mặt chúng ta. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh đến tình yêu tuy hai mà một này rằng: «Tình yêu dành cho Thiên Chúa và tình yêu cho người thân cận trở nên một».
Việc Đức Kitô đồng hoá với người nghèo cho chúng ta thấy sự thống nhất nền tảng của một lề luật duy nhất (x. Mt 22,37-40), của một tình yêu duy nhất làm nên căn tính đời sống Kitô hữu và đặt ra những đòi hỏi cho những ai theo Người.
Trong chiều hướng đó, các nhà thần học giúp cho các Kitô hữu nhận ra những chiều kích thực hành thiêng liêng để thực hiện sứ mạng của mình trong tương quan với người nghèo và cũng để thể hiện niềm tin trong Đức Kitô. Vị tông đồ Chúa yêu giúp cho các Kitô hữu hiểu và cảm nhận được tình yêu hai chiều: với Thiên Chúa và với tha nhân, nhất là người nghèo. «Nếu ai thấy anh em túng bấn mà đóng chặt lòng dạ lại, thì làm sao lòng mến Thiên Chúa có ở trong kẻ ấy?» (1Ga 3,17) và «nếu ai nói tôi yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn chúng ta đã nhận được từ Ngài: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình.” (1Ga 4,20-21)». Về điểm này, Đức giáo hoàng Lêô nói rất mạnh:
Đối với các Kitô hữu, người nghèo không phải là một phạm trù xã hội học, mà là chính “xác thịt” của Chúa Kitô. Chỉ tuyên xưng giáo lý về sự Nhập Thể của Thiên Chúa một cách chung chung thì chưa đủ. Để thực sự bước vào mầu nhiệm cao cả này, chúng ta cần hiểu rõ rằng Chúa đã mặc lấy một xác phàm đói khát, đau yếu và tù đày.
Trong một bài giảng, Đức Tổng Giám mục Oscar Romero đã cho các thính giả nhận ra cách thế để sống tin yêu vào Chúa Giêsu trong cuộc sống này: «Có một tiêu chuẩn để biết xem Thiên Chúa luôn kề bên hay ở xa chúng ta: tất cả những ai bận tâm cho những kẻ đói khát, trần truồng, nghèo khổ, bị mất tích, bị tra tấn, bị giam cầm – cho bất cứ nỗi thống khổ nào của nhân loại – đều ở kề bên Thiên Chúa». Như thế hành vi cử chỉ đối với tha nhân sẽ xác định việc ở gần hay xa Thiên Chúa, và làm cho chúng ta hiểu được “lý do” của sự phán xét.
Như thế, mức độ hay sức mạnh niềm tin vào Chúa Kitô nhập thể làm người không chỉ được nhìn nhận và được hiểu theo những gì chúng ta nói mà dựa trên những gì chúng ta làm, nhất là cho những kẻ bé mọn nhất. Lựa chọn phục vụ người nghèo là phần chính yếu của một linh đạo khước từ trở thành ốc đảo, của một linh đạo không trốn chạy hoặc tránh né trong những thời khắc khó khăn. Đồng thời, nó cũng bao hàm việc tin và bước đi theo Đức Giêsu trong sự liên đới với những người nghèo. Điều này giúp chúng ta duy trì niềm tín thác vào Thiên Chúa và thái độ bình tĩnh khi gặp phải những thánh giá, những thử thách chông gai tồi tệ hơn.
2.2.2. Kết hợp với Thiên Chúa, lắng nghe những tiếng kêu
Một trong tương quan rất đẹp giữa Thiên Chúa và con người là Thiên Chúa luôn lắng nghe. Ngài lắng nghe tiếng kêu của dân Israel khi làm nô lệ, sống trong cảnh khốn cực ở Ai Cập. «Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật» (Xh 3,7t).Và trải dài theo dòng lịch sử ơn cứu độ, Thiên Chúa vẫn luôn ở bên để lắng nghe con cái của mình, nhất là những người nghèo, như lời nguyện của vịnh gia:
«Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn» (Tv 34,7).
Trong cuộc sống thường ngày, “lắng nghe’ là động từ nhưng với Thiên Chúa dường như đó là một phẩm từ, gắn liền với bản tính của Ngài, bởi lẽ Thiên Chúa luôn lắng nghe con người. Trong kinh nguyện, con người kêu xin Chúa và Ngài đã nhậm lời. Ngài không chỉ lắng nghe tiếng kêu xin, tiếng kêu cứu của người nghèo đúng nghĩa mà còn nghe những người bị bách hại, vô phước, sầu khổ, kẻ mồ côi, góa bụa, những người khiêm nhường (x. Xh 22, 22-26; Tv 10,17; 102, 21; Gc 5,4) vì tất cả đều thuộc về gia đình các người nghèo. Và sở dĩ Thiên Chúa luôn lắng nghe vì Ngài luôn luôn nghe Con của Ngài, Đấng-Trung-Gian-Duy-Nhất của tất cả những kinh nguyện, Đấng là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm của Người là Hội thánh.
Giáo hội hôm nay cần xác tín lại vai trò trung gian của mình để cũng biết lắng nghe và để chuyển tải trái tim tình yêu của Thiên Chúa đến với con người thời đại hôm nay: «Là Thân thể Chúa Kitô, Giáo hội kinh nghiệm cuộc sống của người nghèo như chính “xác thịt” của mình, vì họ có một chỗ đặc biệt trong đoàn dân lữ hành của Thiên Chúa. Do đó, tình yêu đối với người nghèo – bất kể hình thức nghèo nào – là dấu ấn Phúc Âm của một Giáo hội trung thành với trái tim của Thiên Chúa».
Trong tư cách là phần từ của Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô, mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi xây dựng thân thể đó qua thái độ lắng nghe tiếng kêu xin của những người nghèo bằng sự quan tâm, gần gũi và yêu thương như một trách nhiệm đã lãnh nhận chứ không phải là một việc làm bác ái, sự làm phúc bố thí.
Không một Kitô hữu nào có thể xem người nghèo chỉ là một vấn đề xã hội; họ là một phần của “gia đình” chúng ta. Họ là “một trong chúng ta”. Mối tương quan của chúng ta với người nghèo cũng không thể bị giản lược thành chỉ một hoạt động hay chức năng nào đó trong Giáo hội.
Đây là điều mà chính Chúa Giêsu đã làm và mời gọi các môn đệ thực hiện nếu muốn bước theo Ngài trên hành trình đức tin, trong sứ vụ loan báo Tin mừng về Nước Thiên Chúa. Đức giáo hoàng Lêô nhắc nhở: «chúng ta phải cảm thấy có trách nhiệm mời gọi mọi người chia sẻ trong ánh sáng và sự sống có được từ việc nhận ra Chúa Kitô trên khuôn mặt của những người đau khổ và những người thiếu thốn».
Lời mời gọi hay đúng hơn là lời trối hay giới răn yêu thương của Chúa Giêsu, cùng với lời kêu gọi ưu tiên lựa chọn người nghèo của Giáo hội là sứ mạng của mỗi Kitô hữu, một sứ mạng không dễ dàng nhưng không đồng nghĩa với không thể. Các Kitô hữu tin rằng mình chính là dụng cụ của Thiên Chúa, được Thiên Chúa mời gọi để tiếp nối công trình sáng tạo của Ngài trong hiện tại. Tuy nhiên họ chỉ có thể hoàn tất sứ mạng đó trong sự nối kết và hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự. Đó chính là chân trời hy vọng như triết gia Paul Ricoeur đã viết: Đó chính là không gian mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi theo Người qua việc gặp gỡ tha nhân, nhất là kẻ “bé mọn” trong số các anh chị em của Người - và đi theo Người trong niềm hy vọng rằng trong sự gặp gỡ này, một sự gặp gỡ được mở ra cho hết mọi người, có tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng, chúng ta sẽ bước vào chân trời của sự phục vụ tha nhân và trong sự hiệp thông với Chúa. Trái lại, nếu chúng ta lơ là, xao lãng bổn phận trong liên đới với người nghèo, cũng đồng nghĩa với sự xa cách trong tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa.
Sẽ không thừa để nhắc lại lời của thánh Gioan Tông đồ, người môn đệ Chúa yêu, người cảm nhận được sự gần gũi và liên kết mật thiết với Thiên Chúa: «Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?» (1Ga 3,17). Đó là châm ngôn và cũng là cách thế để các Kitô hữu sống với người nghèo, phục vụ người nghèo trong tư cách là con cái của Thiên Chúa, là phần tử của Giáo hội, Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa Kitô. 2.2.3. Phục vụ người nghèo – Niềm tin và sứ vụ loan báo Tin mừng về Nước Thiên Chúa
Trong các sách Tin mừng trình thuật về lời rao giảng của Chúa Giêsu, Tin mừng thứ hai ghi lại: Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng (Mc 1,15). Trong khi đó, Thánh Matthêu viết: Thế rồi Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân (Mt 4,23; 9,35). Như vậy cả hai Phúc âm này đều ghi lời rao giảng của Chúa Giêsu là evangelium.
Theo giải thích của thần học gia Joseph Ratzinger, sau này trở thành Đức giáo hoàng Benedicto XVI, thuật ngữ evangelium là ngôn từ của hoàng đế La Mã; ông tự coi mình là chủ tể trần gian, như đấng giải phóng, như đấng cứu độ. Những sứ điệp do hoàng đế ban hành, đều được gọi là evangelium, được hiểu ngầm là tất cả những gì đến từ hoàng đến đều là tin mừng cứu độ, chứ không chỉ là thông tin. Tuy nhiên đây là tuyên bố của những kẻ tự coi mình là thượng đế cách bất công, hống hách, kiêu ngạo. Thuật ngữ evangelium chỉ đúng khi nói evangelium của Thiên Chúa. Các tác giả sách Phúc âm dùng thuật ngữ này để xác tín rằng chỉ có Thiên Chúa mới có quyền cứu độ trần gian. Evangelium không phải là bài diễn văn báo cáo, không phải chỉ để chia sẻ nhưng hành động có sức lực và quyền năng để cứu độ và biến đổi thế giới.
Và nội dung chính yếu của evangelium là: Nước Thiên Chúa. Lời rao giảng này trở thành trung tâm và hoạt động của Chúa Giêsu. Nước đó không hiện diện trên bất kỳ bản đồ thế giới nào cả. Đó không phải là một vương quốc theo cách thức trần gian. «Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều quan sát được…vì này Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông» (Lc 17,21).
Nghĩa đầu tiên được hiểu về sự hiện diện của “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” là: Nước đó hiện diện qua chính con người của Chúa Giêsu Kitô. Dĩ nhiên ở đây không nói về sự hiện diện thể lý của Chúa Giêsu, nhưng là sự hiện diện qua hoạt động được thực hiện trong Chúa Thánh Thần. Vì thế Nước Thiên Chúa hiện diện qua Đấng là Ngôi Lời đã nhập thể và ở giữa nhân loại (x. Ga 1,14), Đấng là Tin mừng mà Thiên Chúa ban cho nhân loại, để ai tin vào Người thì sẽ được sống (x. Ga 3,16), Đấng đã, đang và sẽ hiện thực hóa ơn cứu độ ngay tại đây và lúc này chứ không đợi đến thời sau hết, và ơn cứu độ đó được ban cách nhưng không cho những kẻ tin, những người nghèo, những kẻ khao khát Nước Thiên Chúa. Trong Người, Thiên Chúa là Đấng hoạt động và thống trị - thống trị theo cách thức của Người, thống trị bằng tình yêu “cho đến cuối cùng chứ không mang quyền lực và cách hành xử của thế gian” (x. Ga, 13,1).
Quả thật, trong lúc người đương thời, ngay cả Gioan Tẩy Giả nghi ngờ về vai trò Messia của Chúa Giêsu, chính những việc làm, những phép lạ, những lời rao giảng cho người nghèo, cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần, trở thành cách thế để dẫn người khác đến niềm tin vào Chúa Giêsu, tin vào triều đại của Thiên Chúa đang hiện diện: «Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì Tôi» (Lc 7, 22-23). Qua những việc Chúa Giêsu làm cho những kẻ bé mọn, Ngài dẫn người nghe đến với niềm tin vào Nước Thiên Chúa, một Thiên Chúa đích thật, một Thiên Chúa sống động, luôn hành động cách cụ thể trong thế giới và trong lịch sử; hiện tại Ngài cũng đang hoạt động, Ngài nắm tất cả kỷ cương vũ trụ trong tay Người.
Nghĩa thứ hai để hiểu về sự hiện diện của “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” là Nước đó hiện diện bên trong con người, trong nội tâm và nơi sâu thẳm của tâm hồn con người. Một khi Triều Đại đó hiện diện trong tâm hồn một người cũng đồng nghĩa là có sự hiện diện của Thiên Chúa, của Tình yêu, cũng đồng nghĩa là người đó đã và đang sống sám hối và tin vào Tin mừng, tin vào Con Thiên Chúa. Để từ đó việc phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo, như cách Chúa Giêsu đã thực hiện, chỉ là hệ quả, là hoa trái phát xuất từ sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tâm hồn người đó. Và với tâm hồn có sự hiện diện của Thiên Chúa, con người không chỉ đón nhận ơn cứu độ, đón nhận Tin mừng Nước Trời cho bản thân mà còn muốn rao truyền niềm vui Tin mừng đến cho người khác, và cũng muốn cho Nước Trời hiện diện trong tâm hồn của tất cả mọi người hầu cùng nhau xây dựng Hội thánh, xây dựng Nước Trời ngay tại trần gian này.
Trong ý hướng đó, Đức giáo hoàng Phanxicô giúp xác tín hơn khi mời gọi: Chỉ khi nào Thiên Chúa ngự trị giữa chúng ta và trong tâm hồn mỗi người, đời sống xã hội sẽ là một môi trường của tình huynh đệ phổ quát, công lý, hoà bình và nhân phẩm. Vì thế, mỗi người chúng ta được mời gọi tìm kiếm nước Thiên Chúa: «Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho» (Mt 6,33). Sứ mạng của Đức Kitô là thiết lập vương quốc của Cha Người và Ngài truyền cho các môn đệ đi rao giảng tin vui rằng “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,7). Vương quốc này, vốn đã hiện diện và lớn lên giữa chúng ta, lôi kéo sự tham dự của chúng ta trên mọi bình diện và nhắc nhớ chúng ta về nguyên tắc phân định mà Đức giáo hoàng Phaolô VI áp dụng cho sự phát triển đích thực: nó phải hướng tới “mọi người và trọn vẹn con người”.
Đó chính là hành trình đức tin, hành trình ơn gọi mà mỗi Kitô hoàn tất trong cuộc sống, trên thế giới này như là sứ mạng đã nhận lãnh nơi Thiên Chúa Cha: Sứ mạng xây dựng Nước Chúa, xây dựng vương quốc của tình yêu, nơi mà tất cả mọi người đón nhận được hạnh phúc và ơn cứu độ, không trừ một ai, không phân biệt giữa giàu hay nghèo, nam hay nữ, trẻ hay già, giáo sĩ hay giáo dân.
KẾT LUẬN
Trải dài theo dòng lịch sử cứu độ, hình ảnh của người nghèo trong Tin mừng theo thánh Luca và người nghèo trong các văn kiện của Hội Thánh cho tới hôm nay không có bất cứ sự khác biệt nào dù họ sống ở những mốc thời gian khác nhau, tại những nơi khác nhau và trong những hoàn cảnh không giống nhau. Sợi chỉ đỏ liên kết tất cả những con người đó lại chính là THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG XÓT THƯƠNG, một Thiên Chúa quan phòng tất cả mọi thụ tạo, Đấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính (x. Mt 5,45). Đó là một Thiên Chúa gần gũi và ban ơn cách rõ ràng qua Chúa Giêsu, Đấng Messia nghèo hèn nhập thể làm người và ở giữa nhân loại.
Và một sợi chỉ khác liên kết những người nghèo lại với nhau chính là TƯ CÁCH CHỦ THỂ của họ trước mặt Chúa và mọi người. Dù sống trong hoàn cảnh khó khăn, nghèo khổ trên cả bình diện vật chất lẫn tinh thần, Thiên Chúa vẫn luôn để mắt, yêu thương và chăm sóc từng người. Dù sống trong hoàn cảnh nghèo bởi thân phận yếu đuối, tội lỗi, nhưng với lòng tin, con người cũng được cứu độ bởi máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá. Họ là những chủ thể, là những ngôi vị đáng giá và đáng quý trước mặt Thiên Chúa.
Họ cũng chính là những chủ thể, được Chúa giao cho sứ mệnh phục vụ người khác. Với lòng khao khát ơn cứu độ, với niềm tin và sự phó thác, họ trở nên mẫu gương đời sống đức tin cho con người mọi thời đại. Nơi họ, con người học những bài học sâu sắc. Họ nghèo về vật chất nhưng họ giàu về niềm tin, điều chúng ta đang tìm kiếm, điều chúng ta còn thiếu trên hành trình tìm lại chính hình ảnh của Thiên Chúa.
Nơi họ, trong tư cách là những chủ thể, Thiên Chúa mở ra những cơ hội, những phương thế cho tất cả những Kitô hữu đang sống đức tin. Họ là những chủ thể được phục vụ. Con người mọi thời chỉ có thể sống đức tin, làm mới đức tin của mình một cách vững bền, trưởng thành và trung kiên khi dám lựa chọn sống với và sống cho những con người nghèo. Họ chính là con đường để Giáo hội và mỗi người chúng ta bước đi trên hành trình đức tin.
Những sợi chỉ đỏ theo chiều dọc và chiều ngang đó cũng sẽ liên kết mỗi người chúng ta lại với nhau vì trước mặt Chúa, chúng ta cũng là những con người nghèo cần được Thiên Chúa xót thương và cần được sự giúp đỡ bởi anh chị em xung quanh, trong đó không thể không kể đến những con người đang gặp phải những khó khăn, những người tưởng chừng như rất tầm thường nhưng lại rất đáng quý và có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống mỗi Kitô hữu. Hãy cùng nhau bước đi, cùng một con đường, cùng một điểm đến để «làm việc với sự dấn thân nhiều hơn để trở thành những môn đệ có khả năng chia sẻ bàn tiệc sự sống, bàn tiệc của tất cả con cái Chúa Cha, một bàn tiệc mở ra và bao gồm, không ai bị loại trừ».
PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 49. GIOAN PHAOLÔ II, Bài giảng trong Thánh Lễ cầu cho việc Loan Báo Tin Mừng cho các Dân Tộc, tại Santo Domingo, 11.10.1984. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 16. PHANXICÔ, Giáo lý trong buổi tiếp kiến chung (udienza generale), 29.01.2020. x. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, verlag Herder, Breiburg im Bresgau, 2007, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 92. x. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, verlag Herder, Breiburg im Bresgau, 2007, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 94. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 17; PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 197. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ NGHÈO. PHANXICO, Thông điệp cho các bạn trẻ hướng tới đại hội giới trẻ lần thứ XXIX, 21.01.2014. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, 2007 Verlag Herder, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 94. BENEDICTO XVI, phát biểu trong buổi tiếp kiến chung tại Vatican, 15/02/2006. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 108. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ TRỜI. x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, quyển III (thuật ngữ TRỜI) x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, quyển III, (thuật ngữ TRỜI). x. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, 2007 Verlag Herder, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 147. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 100. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 100. PHANXICO, Evangelii Gaudium, số 198. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 19. x. JOSÉ CRISTO REY GARCÍA PAREDES. Cmf, «Poverty For The Kingdom», dịch HOÀNG THỤY, OP, trích trong Thời Sự Thần Học, số 33, tháng 9, 2003. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 18. x. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 20. x. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 20. x. JOSÉ CRISTO REY GARCÍA PAREDES. Cmf, «Poverty For The Kingdom», dịch HOÀNG THỤY, OP, trích trong Thời Sự Thần Học, số 33, tháng 9, 2003. Việc phạm thượng hoặc chửi thề không chỉ là sự xúc phạm trực tiếp chống lại Thiên Chúa mà còn ảnh hưởng đến quyền cai trị và tính độc nhất của Thiên Chúa. x. Lv 24:16: “Ai nói phạm đến danh ĐỨC CHÚA, sẽ bị xử tử: toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó; dù là ngoại kiều hay người bản xứ, nếu nói phạm đến thánh danh, sẽ bị xử tử.” x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ MASSIA. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số186; LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 23. Những động từ được chọn để biểu thị sự tự hạ của Đức Kitô mặc lấy thân nô lệ (èkénôsen) (c.7) và hạ mình (ètapeínôsen) (c.8). Về sau chỉ về tiến trình phải chịu sự nhục nhã vì Đức Kitô đã nhập thể. Từ “địa vị Thiên Chúa” chuyển qua “thân phận người nô lệ” được diễn tả qua cách thức mặc lấy thân nô lệ (ékénôsen). Động từ này có nghĩa là Đức Kitô đã hoá mình ra không, đã trút bỏ đặc quyền thần linh của Ngài, đã nên trắng tay. Đó không phải là vấn đề hủy bỏ”. L. Cerfaux, Cristo nella teologia di san Paolo, ed.A.V.E., Rome 1969, p.142. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 19. x. JOSÉ CRISTO REY GARCÍA PAREDES. Cmf, «Poverty for the Kingdom», dịch HOÀNG THỤY, OP, trích trong Thời Sự Thần Học, số 33, tháng 9, 2003. Xét trên bình diện tinh thần và tâm linh. Ngài nói đến sự “vinh quang dồi dào của Người” (Rm 9,23) và “sự giàu có, không ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào” (Rm 11,33). Trong 1Cr 1,5 , thánh Phaolô nói rằng “trong Đức Kitô Giêsu , anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người”. x. JOSÉ CRISTO REY GARCÍA PAREDES. Cmf, «Poverty For The Kingdom», dịch HOÀNG THỤY, OP, trích trong Thời Sự Thần Học, số 33, tháng 9, 2003. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 198. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 199; GIOAN PHAOLÔ II, Novo Millennio Ineunte, số 50: AAS 93 (2001), số 303. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 16. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 21. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 108. x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ NGHÈO. x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ NGHÈO. TÔMA AQUINÔ, S. Th, I-II, q. 26, a. 3. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 198. PHANXICÔ, Lumen Fidei, số 4. BENEDICTO XVI, Deus Caritas Est, số 1. GUSTAVO GUTIÉRREZ, O.P, «The option for the poor arises from faith in Christ», PHÊNY NGÂN GIANG chuyển ngữ, trong Thời sự Thần học - số 56, tháng 5/2012. x. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 111. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 39. BENEDICTO XVI, Deus Caritas Est, số 15. x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, thuật ngữ NGHÈO. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 110. Óscar Arnulfo Romero y Galdámez (15.8.1917 – 24.3.1980),. Ngài nguyên là tổng giám mục của tổng giáo phận San Salvador (thuộc nước El Salvador). Ngài nổi tiếng với việc chống lại các vấn đề như: nghèo đói, bất công trong xã hội, việc ám sát và tra tấn. Năm 1980, ngài bị ám sát trong khi đang cử hành thánh lễ. Ngài được thánh vào ngày 14.10.2018, bởi Đức giáo hoàng Phanxicô. OSCAR ROMERO, «Hội thánh nương tựa sự yếu đuối nơi Đức Kitô», bài giảng Chúa nhật V mùa thường niên, 05.02.1978, http://servicioskoinonia.org/romero/homilias/A/780205.htm (accessed April 7, 2009); GUSTAVO GUTIERREZ, O.P, «The option for the poor arises from faith in Christ», PHÊNY NGÂN GIANG chuyển ngữ, trong Thời sự Thần học - số 56, tháng 5/2012. x. OSCAR ROMERO, «Hội thánh nương tựa sự yếu đuối nơi Đức Kitô», bài giảng Chúa nhật V mùa thường niên, 05.02.1978, http://servicioskoinonia.org/romero/homilias/A/780205.htm (accessed April 7, 2009); GUSTAVO GUTIERREZ, O.P, «The option for the poor arises from faith in Christ», PHÊNY NGÂN GIANG chuyển ngữ, trong Thời sự Thần học - số 56, tháng 5/2012. x. VOCABULAIRE DE THÉOLOGIE BIBLIQUE, Éditions du Cerf, Paris, 1971, dịch bởi Phân Khoa Thần Học, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, nhà in Nguyễn Bá Tòng, tp Hồ Chí Minh, 1976, quyển I. (thuật ngữ LẮNG NGHE) LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 103. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 104. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 103. x. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 187. GUSTAVO GUTIÉRREZ, O.P, «The option for the poor arises from faith in Christ», PHÊNY NGÂN GIANG chuyển ngữ, trong Thời sự Thần học - số 56, tháng 5/2012. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, verlag Herder, Breiburg im Bresgau, 2007, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 71. BENEDICTO XVI, Jesus von Nazareth, verlag Herder, Breiburg im Bresgau, 2007, biên dịch NGUYỄN VĂN TRINH, tr. 78. x. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 180. Ivi., số 181; PAOLO VI, Populorum Progressio, 16.3.1967, số 14. LÊÔ XIV, Dilexi Te, số 99.