Adam và Evà ở Thiên Đàng
Tranh của Paulus Krebs tại Tu viện St. Hildegard , Eibingen.
Photo via Wikimedia Commons (public domain).
Ađam và Evà là những nhân vật chính trong trình thuật về “Vườn Địa Đàng” thần thoại, khi con rắn xảo quyệt bắt đầu thực hiện mưu mô, trình thuật nhanh chóng chuyển từ cảnh một gia đình hòa thuận êm ấm (sách Sáng Thế chương 2) sang cảnh gia đình cơm không lành canh không ngọt (sách Sáng Thế chương 3). Qua nhiều thời đại, trình thuật về đôi vợ chồng đầu tiên này đã ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng người Do Thái, cũng như đến thần học Kitô giáo về hôn nhân từ thời Tân Ước cho đến nay. Có rất nhiều điều chúng ta cần tìm hiểu về mối quan hệ giữa Ađam và Evà trong Kinh Thánh và về ý nghĩa mà trình thuật này mang đến cho giao ước thiêng liêng giữa vợ chồng. Điều kỳ lạ là văn bản không nói rõ rằng cặp đôi đầu tiên đã kết hôn, mặc dù nhiều nhà bình luận cho rằng chuyện đó đã xảy ra. Để giải quyết vấn đề này, một truyền thống Do Thái sau đó đã chú giải rằng Chúa đã thực hiện cuộc hôn nhân đầu tiên và ban phước cho cặp đôi; ở sự kiện đó, chính thiên thần Michael và Gabriel đã đóng vai “phù rể” (Midrash Rabbah 1.63). Nếu chuyện này xảy ra thì đây là một lễ cưới có một không hai!
Trong khung cảnh vườn Ê-đen thơ mộng, bóng tối dần bao trùm lên những con người đầu tiên khi “con vật xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng” lợi dụng lòng tham của người phụ nữ muốn được tinh khôn để gây loạn (sách Sáng Thế 3,1). Người đàn ông cũng bị liên lụy luôn. Kết quả là, Thiên Chúa phạt họ phải chịu cực nhọc mọi ngày và Thiên Chúa đã trục xuất họ khỏi vườn Ê-đen. Chân lý về việc cứu chuộc được thể hiện qua câu chuyện về sự yếu đuối của con người. Ađam đầu tiên trong sách Sáng thế trở thành đối trọng với Chúa Kitô, người mà theo các thư của thánh Phao-lô, là Ađam thứ hai và cuối cùng. Thánh Phao-lô mô tả, bời Ađam đầu tiên mà tất cả đều phải chết và nhờ Ađam cuối cùng mà tất cả đều được sống lại (1 Cô-rinh-tô 15:22). Và Evà , mẹ của nhân loại, người mà theo Phao-lô bị con rắn lừa dối (2 Cô-rinh-tô 11:3), nắm giữ một vai trò tương phản với vai trò của Đức Maria, Evà mới, người đã được hình tượng hóa như một phụ nữ dẫm nát đầu Satan.
Tác giả Kinh Thánh đã mô tả cặp đôi đầu tiên này như thế nào, và chúng ta học được gì về mối quan hệ của họ để làm sáng tỏ thêm quan niệm hôn nhân trong Kinh Thánh? Các sách Phúc âm Nhất lãm (Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca) và Phao-lô đã diễn giải lại ra sao các câu Kinh Thánh quan trọng từ trình thuật trong sách Sáng thế để diễn đạt những niềm tin cơ bản về hôn nhân? Chúng ta bắt đầu với việc Chúa tạo dựng loài người trong trình thuật tạo dựng đầu tiên (Sáng thế 1,27-28), đây là đoạn văn quan trọng đặt nền tảng cho việc Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ như được diễn tả với Sáng thế 2,4b-25. Cặp đôi này chỉ được định danh sau đó nơi trình thuật thứ hai. Theo truyền thống, các nhà chú giải cho rằng trình thuật tạo dựng thứ hai, mang tính nhân hình hơn (ví dụ, Chúa tạo dựng con người từ đất sét), và đã được viết trước trình thuật thứ nhất, vốn là một trình thuật đươc viết với văn phong uy nghi hơn (Thiên Chúa tạo dựng bằng lời phán truyền).
Loài người được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa (Sách Sáng thế 1,27-28)
Sau khi tạo dựng “muôn loài sinh vật”, Thiên Chúa long trọng tuyên bố kế hoạch thần linh: “Chúng ta hãy làm ra con người (hā-’ādām) theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (Sáng thế, 1,26), một ý định được hiện thực hóa trong lời khẳng định đầy chất thơ: “Thiên Chúa sáng tạo con người (hā-’ādām) theo hình ảnh mình; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.” (1,27). Trong bối cảnh này, “con người” theo Phyllis Trible, là “một thuật ngữ chung cho loài người” (“Eve and Ađam: Genesis 2–3 Reread,” 261; do đó bản dịch NRSVue dịch là “loài người” trong 1,27), và thuật ngữ này được phân biệt trong câu tiếp theo là nam và nữ.
Mọi người, nam hay nữ, đều tham gia đầy đủ và trọn vẹn vào hình ảnh thần linh. Sự tham gia này được hiện thưc hóa qua giới luật đầu tiên của Kinh Thánh : “Hãy sinh sôi nảy nở” (1,28). Trước trách nhiệm cao cả đó, “Thiên Chúa đã chúc phúc cho họ”, đây là một ân huệ thiêng liêng được lặp lại trong lời chúc phúc hôn nhân của nghi thức hôn phối, cầu xin Thiên Chúa, “tuôn đổ muôn phúc lành ” cho cặp vợ chồng.
Hai nguyên tắc cơ bản xuất hiện từ chương đầu tiên của Sáng thế ký được xem là những trụ cột trong truyền thống Do Thái và Kitô giáo. Nguyên tắc thứ nhất là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei) với phẩm giá vốn có. Điều này chính là trọng tâm của Giáo huấn Xã hội Công giáo. Nguyên tắc thứ hai là tính công khai về việc sinh con, vì đây là mục tiêu chính của hôn nhân và đã được tái khẳng định bởi Công đồng Vatican II (Gaudium et Spes 50). Khi nhìn lại tất cả những gì đã tạo ra, Thiên Chúa thấy “rất tốt đẹp” (1,31). Nhưng rồi Thiên Chúa nhận thấy một điều chưa ổn: đó là sự cô đơn của người đàn ông.
“Người đàn ông” được tạo ra từ bụi đất, và “người phụ nữ” từ người đàn ông (Sáng thế 2, 7-24)
Mặc dù ngay từ chương đầu họ chưa có tên, nhưng mối liên hệ mật thiết giữa Ađam và Eve đã bắt đầu từ chương 2 sách Sáng thế. Mãi đến sau, chúng ta mới biết tên riêng của họ: E-và ở chương 3, 20, nơi “người đàn ông” gọi bà là “mẹ (Chavvah) của chúng sinh”, và Ađam ở chương 5,1, khi giới thiệu về con cháu của ông. Công trình tạo dựng loài người gồm hai bước: trước hết Thiên Chúa tạo ra một người đàn ông trưởng thành (hā-’ādām) “từ bụi đất” (ha-’ăḏāmāh; hãy lưu ý cách chơi chữ ấn tượng), và sau đó Thiên Chúa thổi vào lỗ mũi ông “hơi thở sự sống” (chai, từ đó Chavvah, “mẹ”, được bắt nguồn). Hình ảnh bụi đất cho thấy cuộc sống con người hữu hạn và dễ bị tổn thương; còn hơi thở ban sự sống phản ánh mối liên hệ thiêng liêng cao quý giữa con người và thần thánh (xem 1,27) đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết của họ với Đấng Tạo Hóa. Tiếp đến, Thiên Chúa nhận thấy có một thiếu sót hiển nhiên: đó là sự cô đơn của con người. “Con người (hā-’ādām) ở một mình không tốt” (2,18).
Quan sát sự cô đơn này, Thiên Chúa nhận ra một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người là có được một mối quan hệ với ai đó. Vì vậy, Thiên Chúa bắt đầu tạo ra vô số sinh vật sống. Tuy nhiên, không có sinh vật nào trong số đó chứng tỏ là “một trợ tá tương xứng(’êzer neged) với người đàn ông” (2,20). Cụm từ tiếng Do Thái khó hiểu được sử dụng trên, được dịch sát nghĩa là “người giúp đỡ như người bạn đời của anh ta” (NRSV), đề cập đến một người bạn đời là người đồng hành đứng “đối diện” với người đàn ông. Trong hôn nhân, người vợ được coi là người giúp đỡ / trợ tá tương xứng, đôi khi trở thành như một đối trọng với chồng mình, và thậm chí có thể thách thức chồng nhằm nuôi dưỡng và duy trì mối quan hệ hổ tương..
Từ góc nhìn của một xã hội phụ quyền, khi được gọi là “người giúp đỡ / trợ tá” thì người phụ nữ đươc mặc định phụ thuộc vào người đàn ông (xem 3,16, “chồng ngươi… sẽ thống trị ngươi,” quan điểm náy được lặp lại trong 1 Ti-mô-thê 2,11-13); vì xét cho cùng, E-và được tạo dựng ra sau A-đam. Tuy nhiên, có nhiều người nhận ra Thiên Chúa thường được gọi là “người giúp đỡ” trong Cựu Ước (và rõ ràng Thiên Chúa không phụ thuộc vào bất kỳ tạo vật nào), họ cho rằng ’ê·zer neged không nói về mối quan hệ thứ bậc mà là mối quan hệ đối tác bổ sung. Hơn nữa, việc được sinh sau ai đó trong văn hóa Kinh Thánh không bị coi là “thấp kém hơn”, điều này được minh họa qua câu chuyện Ê-sau và Gia-cốp.
Để tạo ra người phụ nữ, Thiên Chúa sử dụng một phần cơ thể của người đàn ông để tạo ra người mà lòng ông mong muốn. Hoạt động như một bác sĩ phẫu thuật cấy ghép, Thiên Chúa lấy một xương sườn của người đàn ông và dùng xương đó (tsela) tạo“thành một người phụ nữ (ishshah)” (2,22). Một số người lập luận rằng câu Kinh Thánh này cho thấy sự phụ thuộc của phụ nữ vào đàn ông; tuy nhiên có những người khác, chẳng hạn như Matthew Henry (1662–1714), cho rằng câu đó ngụ ý về sự bình đẳng: người phụ nữ “không được tạo ra từ đầu của người đàn ông để cai trị ông, cũng không từ chân của ông để bị ông chà đạp, mà từ bên cạnh sườn ông để bình đẳng với ông, dưới cánh tay ông để được bảo vệ, và gần trái tim ông để được yêu thương.” Rabbi Eliezer Melamed (sinh năm 1961) nhận xét rằng người phụ nữ được tạo thành ở một giai đoạn tiến bộ hơn vì bà “được tạo ra từ một chất liệu cao quý hơn, là xương sườn của người đàn ông,” chứ không phải từ bụi đất (Peninei Halakhah, Lời cầu nguyện của phụ nữ 6,2).
Chúa, người thợ gốm, nay trở thành người xây dựng: khi được chứng kiến công trình Thiên Chúa tạo ra, người đàn ông đã thốt lên những lời hân hoan đậm chất thơ để bày tỏ niềm vui và sự thích thú:
Cuối cùng, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi (basar);
Nàng sẽ được gọi là “đàn bà” (’ishshah)
vì đã được rút từ đàn ông ra (’ish). (Sáng thế 2,23)
Người nam và người nữ, sau khi được phân biệt giới tính, đã phát triển một mối quan hệ khăng khít: “xương của xương tôi và thịt của thịt tôi” – và họ đã gắn bó keo sơn với nhau. Họ trở thành những người thân ruột thịt thực sự, gắn kết với nhau bằng xương bằng thịt. Chúng ta nên chú ý đến cách chơi chữ bằng cách sử dụng các từ có âm tương tự giữa thuật ngữ “người nữ”, ishshah, và thuật ngữ dành cho người nam, ish. Sự tương đồng giữa các thuật ngữ có liên quan này cho thấy một mối liên hệ sâu sắc, ngụ ý không có sự gián đoạn hay chia cách, và sự liên hệ đó được nhấn mạnh trong câu tiếp theo.
Mức độ chia cách hay sự hợp nhất sâu xa (“một xương một thịt”)?
Người kể chuyện sau đó giải thích thêm: “Vì vậy, người đàn ông (ish) sẽ rời cha mẹ mình mà gắn bó với vợ (ishshah), và hai người sẽ trở nên một xương một thịt (theo nghĩa đen là “thịt”, basar)” (2,24). Hai bước chuyển động giữa các động từ “rời bỏ” và “gắn bó” đề cập đến sự tách rời của người nam khỏi mối quan hệ với cha mẹ và sự hình thành một mối quan hệ mới với vợ mình. Thuật ngữ tiếng Do Thái basar có thể đề cập đến chất liệu vật lý của cơ thể (da, thịt và xương), đến mối quan hệ huyết thống, và đến chính cơ thể. Trong đoạn văn này, thuật ngữ basar có ý nghĩa rộng, bao hàm toàn thể con người. Người nam và người nữ nối kết với nhau qua việc họ gắn bó với nhau, điều này nói lên niềm khát vọng mạnh mẽ trong tâm khảm của họ về một sự hợp nhất sâu xa.
Bằng cách trở thành “một thân thể”, mối quan hệ giữa vợ chồng được xác định là mối quan hệ chính yếu, đây là một giáo huấn được nhấn mạnh trong lời giảng dạy của Chúa Giê-su về ly hôn (Mác-cô 10,6-9; Mát-thêu 19,5, cả hai đều trích dẫn Sáng thế 2,24). Phao-lô, hoặc một trong những môn đệ của ông, cũng dựa vào đoạn văn này (Ê-phê-sô 5,21; so sánh 1 Cô-rinh-tô 7:10-11) để ủng hộ quan điểm rằng “hôn nhân là một thể chế thiêng liêng” (chú thích của các biên tập viên NABRE về Ê-phê-sô 5,31, bình luận về Sáng thế 2,24). Trong Ê-phê-sô 5,21-33, tác giả nâng cao lên mức cao nhất hôn nhân giữa vợ chồng và tình yêu của họ, gọi đó là biểu tượng sâu sắc của tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Trong khi tác giả sách Ê-phê-sô khuyên chồng và vợ phải phục tùng lẫn nhau, và vợ phải phục tùng chồng, thì trong 5,21-31, ông lặp đi lặp lại cả thảy bốn lần lời hướng dẫn chồng phải yêu vợ mình, thậm chí hy sinh, “như Chúa Kitô đã yêu Hội thánh và phó mình vì Hội thánh” (5,25). Khi trích dẫn Sáng thế 2,24, tác giả nhấn mạnh rằng khi hai người trở nên một xương một thịt, điều này phải diễn ra một cách chân thành nhất trong tình yêu thương tự hiến. Mối quan hệ thân mật giữa vợ chồng và sự kết hợp huyền nhiệm giữa Chúa Kitô và Hội thánh trong sách Ê-phê-sô được đặt nền tảng trên sự khẳng định về việc người nam và người nữ trở nên một xương một thịt như được viết trong sách Sáng thế 2,24.
Tóm tắt
Việc tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên, sau này được xác định là A-đam và Ê-va, “đặt nền tảng cho sự hiểu biết về hôn nhân” (sách Jewish Study Bible, 16). Trình thuật tạo dựng thứ nhất nhấn mạnh mục đích chính của việc tạo dựng con người là sinh sản. Trình thuật tạo dựng thứ hai làm nổi bật sự thân mật giữa cặp vợ chồng khi họ trở nên “một xương một thịt”. Hai khía cạnh này được xác định là hai mục đích của hôn nhân trong Hiến chế Gaudium et Spes – Vui mừng và Hy vọng của Công đồng Vatican II (§§ 48–51). Chúng chính là cốt lõi của thần học về hôn nhân.
Hiến chế Gaudium et Spes đã dựa vào lệnh truyền từ trình thuật tạo dựng thứ nhất để khẳng định rằng “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng quy hướng về việc sinh sản” (§48; xem thêm §50, có đề cập đến Sáng thế 1,28), Thêm vào đó, văn kiện cũng xử dụng nội dung của trình thuật tạo dựng thứ hai để nhắn nhủ các đôi vợ chồng “hãy nuôi dưỡng thời kỳ đính hôn bằng một tình yêu trong sạch và những người đã thành vợ chồng hãy nâng đỡ cuộc sống lứa đôi bằng một tình yêu không rạn nứt” (§49 xin đọc Sáng thế 2,22-24). Sau khi đã đào sâu chủ đề này, Công đồng xác định: tình yêu hôn nhân “là một tình yêu mang tính nhân văn cao cả và” liên quan đến “thiện ích của toàn bộ con người” (xem Ê-phê-sô 5:21-33), đồng thời “Phải nhìn nhận phẩm giá nhân vị bình đẳng giữa vợ và chồng” và “ hãy luôn hợp nhất với nhau trong tình yêu thương” (§§49, 52). Cuối cùng, chúng ta nhận thấy rằng mối quan hệ giữa Ađam và Evà dầu trải qua nhiều thế kỷ vẫn giữ vị trí trung tâm trong văn hóa phương Tây thông qua các tác phẩm văn học ngụy thư, sử thi, tranh vẽ nổi tiếng và tiểu thuyết. Một ví dụ, vở kịch Thiên đường trong thời Trung cổ đã tái hiện vai trò của cặp cha mẹ đầu tiên. Các Giáo hội phương Đông đã nâng cao tầm quan trọng của họ trong câu chuyện cứu rỗi bằng cách dành ngày 24 tháng 12 làm lễ kính Thánh Ađam và Thánh Evà. Đến nay, câu chuyện trong Kinh thánh về cặp đôi đó vẫn còn là nguồn cảm hứng cho nền thần học về hôn nhân.
Luke Quang chuyển ngữ
Nguồn: The Bible Today Jan-Feb 2026